You are here

Âm nhạc trong đời sống cộng đồng Tây Nguyên

Tác giả: 
Linh Nga Niê Kdam

Nghệ nhân Rchom Tít & Ksor HNao với 2 cây đàn kni và gong Jrai

Âm nhạc dân gian Tây Nguyên, một trong những kho tàng phong phú và độc đáo của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Kể từ  khi đất nước giành độc lập, đã có rất nhiều nhạc sĩ chọn chất liệu âm nhạc dân gian Tây Nguyên cho sự sáng tạo của mình thăng hoa. Những tác phẩm xanh mãi cùng thời gian như sự vinh danh cho âm nhạc dân gian Tây Nguyên.

Trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại, âm nhạc chiếm vị trí đáng kể của nghệ thuật diễn xướng nói chung.

Âm nhạc Tây Nguyên gắn bó chặt chẽ với đời sống cộng đồng, nên có thể chia ra hai loại: Âm nhạc dùng cho nghi lễ & âm nhạc cho sinh hoạt.

1. Âm nhạc dùng cho lễ nghi :

Không có một dân tộc thiểu số nào cư trú trên dãy Trường Sơn - Tây Nguyên mà không có bộ ching chêng. Ít thì chỉ 1 chiếc như ching của người Triêng, gồm 2 chiếc như bộ ching tha của người Brâu ở Kon Tum, 3 chiếc như của người Mnông, người Mạ, nhiều như dàn ching arap Jrai, chêng xoh xơh Bânar có từ 8 -14 chiếc, 6 chiếc như chưng bo của tộc người Mnông, 10 chiếc như ching knah của người Êđê.

Đây chính là phương tiện để thông báo, mời gọi các vị thần linh về chứng kiến một việc cần cầu xin hay một sự báo đáp. Ching, trống cũng bao hàm cả sự thông tin cho cộng đồng về một sự việc sẽ diễn ra ở một gia đình, một buôn, bon, kon, plei nào đó.  Ví dụ như trong sử thi “Kể dòng con cháu Mẹ Chép” của tộc người Mnông, đoạn Tiang về đến nhà mẹ Phing: “Từ bờ suối vang tiếng tong ton/ từ trong bon vang tiếng đánh ching/ từ bãi cỏ vang tiếng nhạc diều / vang ching brau mẹ Djăt, mẹ Djăng/ Họ đánh trống suốt ở trong bon/ Họ đánh ching suốt ở trong bon/  kèn tù và không rời khỏi mồm”.

Mỗi chiếc ching, tuỳ theo tộc người và vùng miền, đều có một tên gọi riêng. Trước các dàn ching đồng là những chiếc ching đá chỉ được đánh lên khi có những lễ cúng thật lớn của cộng đồng. Nếu đánh không có nguyên do, sẽ gây nên mưa giông, bão lũ. Người Êđê còn dùng bộ ching tre cho thanh thiếu niên có năng khiếu luyện tập, đến khi cần có thể ngồi vào dàn ching đồng thay thế các bậc cao niên. Ching thì có núm, chêng lại không có núm.

Vì là phương tiện giao lưu với các vị thần linh, nên có nhiều sự kiêng kỵ phải chú trọng. Trước đây, muốn lấy bộ ching chưng ra xử dụng, người Mnông phải rảy rượu lên mặt chưng & có lời xin phép “thần chưng”. Người Êđê thì kiêng không đánh ching trong nhà, nếu không có lễ cúng gì diễn ra.

Một nhạc cụ khác không thể thiếu trong lễ nghi là những chiếc trống cái h’gơr, s’gơr điều khiển sự ngừng nghỉ và nhịp điệu nhanh chậm của cả dàn ching chêng, có thể để một chỗ trên ghế kpan như người Êđê, hay đeo vai theo nhịp vòng quanh cây nêu như trống Jrai, Sê Đăng, hoặc vừa nhảy vừa vỗ hai đầu như trống nhỏ Chăm Hroaih, Mạ.

- Nhạc cụ khác dùng trong lễ nghi là những chiếc tù và bằng sừng trâu ky pah, t’diep, nung lok, nung pri yơ…. Mang tính kêu gọi, tập hợp, hiệu lệnh chiến đấu hay báo tin nghi lễ quan trọng, âm lượng lớn, mạnh mẽ. Âm thanh nghe sảng khoái, hào hùng. Có loại tù và lớn bằng sừng trâu, nhưng cũng có tù và nhỏ bằng sừng dê.

- Người Mnông còn xử dụng một loại nhạc cụ khác trong những lễ có ăn trâu, là chiếc kèn Rlét, chỉ gồm một quả bầu nhỏ và hai ống nứa: một nhỏ dài và một ngắn, to, dùng thổi trước & sau câu khẩn cầu các Yang.

- Cây kèn đing năm của người Êđê trước đây chỉ dùng khi có đám ma, cùng kèn đinh tút do những người phụ nữ thổi, như những lời thủ thỉ tâm tình, sáo đing buốt chok như lời khóc than tiếc thương.

- Bộ kèn đing tút của người Jẻ & Triêng, cũng chỉ được dùng trong những cuộc lễ lớn của cả cộng đồng và khi trình tấu, những người đàn ông phải khoác tấm choàng như phụ nữ mặc váy.

Trong âm nhạc dân gian phục vụ lễ thức, phải kể tới các bài cúng khấn thần, các bộ luật tục phân xử những mâu thuẫn nảy sinh trong cộng đồng, đều có vần có điệu.

2. Âm nhạc trong sinh hoạt:

Những nhạc cụ & câu hát dân gian truyền miệng trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, ngoài nương rẫy hay trong những phần hội sau một lễ thức nào đó của gia đình, dòng họ hay cả cộng đồng, là cả một tập hợp đa dạng và phong phú.

Đối với nhạc đàn:

- Có loại đàn đặt ngoài rẫy nhờ vào sức nước chảy của suối để xua đuổi thú rừng, tăng nguồn vui và bổ xung năng lượng cho con người đang lao động, như đàn tr’ưng nước, ting gling, khing khung.

- Trừ ching chêng bằng đồng, đàn đều tự chế tác rất sáng tạo bằng mọi loại vật liệu sẵn có xung quanh (vật thể) , nhằm phục vụ giải trí trong các sinh hoạt của cộng đồng như: loại  nhạc cụ bằng gỗ (tlung tlơ, khing khung), bằng nứa (gong, ting ning) ; bằng đá (goong lŭ , sáo đá ), bằng cả  sừng thú (ky pah, t’diep), da thú (trống lớn, nhỏ), lá rừng (hla) lẫn cọng lúa (tŭt m’diê), cọng bí (tŭt blei), thậm chí cả bằng những chiếc chai, để tạo ra các âm thanh rất khác lạ.

- Nhiều nhất là các nhạc cụ gõ: ching đồng (ching chêng) , ching đá (gong lŭ), ching gỗ (tlung tlơ), ching tre nứa (t’rưng, kram).

- Các nhạc cụ hơi thổi, hơi vỗ tộc người nào cũng có. Rất phong phú về hình dạng & âm điệu: buốt čok,  Đing kliă, đing năm, wao wao hnai la, Klong put, đing tút, sáo đá. 

- Dùng giao duyên, tỏ tình, các chàng trai có các loại đàn dây kéo (kny, t’ri), dây gảy(gong kram, goong reng , ting ning, ta lư, bro, brok ot, brok… ).

Dù được chế tác bằng nguyên vật liệu gì, âm thanh của các loại nhạc cụ trên cũng vô cùng cuốn hút, thậm chí lạ lùng (ví như thu âm kèn đing năm, m’buốt, nghe qua tưởng như tiếng đàn organ).

Đối với nhạc hát:

- Hơn 20 dân tộc tại chỗ sinh sống quần tụ lâu đời trên dãy núi Trường Sơn - Tây Nguyên, mỗi tộc người đều có nhiều làn điệu dân ca  khác nhau. Cũng chính khác biệt về làn điệu làm nên sự phong phú tâm hồn và bản sắc riêng của mỗi tộc người. Phổ biến có hai thể dân ca chính là hát nói và hát có nhịp điệu: hát nói tự sự,  hát ru, hát đối đáp, hát giao duyên, hát đồng dao…  Điệu hát k’ứt dân ca Êđê trong liên hoan âm nhạc châu Á - Thái Bình Dương ở thành phố HCM năm 1991, do nghệ nhân Ama H’Der  ở buôn AKŏ Siêr, thành phố Ban Mê Thuột trình bày đã được tuyển chọn đưa vào kho tàng tinh hoa âm nhạc dân gian khu vực châu Á - Thái Bình Dương.  

Thể loại hát nói của dân ca Tây Nguyên là phổ biến nhất. Có tộc người chỉ có hát nói mà không có hát có nhịp điệu (như các tộc người Mnông, K’Ho, Chil…).

Rất tiếc, sau khi được UNESCO ghi danh, nhiều địa phương chỉ chú trọng việc truyền dạy cồng chiêng, phục dựng lễ hội, mà bỏ quên các loại nhạc cụ bằng tre nứa, thậm chí cả hát dân ca. Nên nhiều nhạc cụ đã không còn hiện diện trong cộng đồng. Tương tự như thế, số lượng nghệ nhân biết chế tác nhạc cụ ngày càng trở nên hiếm hoi. Nếu không có những công trình sưu tầm của một số nhạc sĩ ở vùng miền Trung - Tây Nguyên, đồng thời với việc cải tiến (mở rộng âm vực, cấu trúc lại hình dạng) một vài nhạc cụ tre nứa,  âm nhạc dân gian có lẽ đã hoàn toàn biến mất hẳn trong cộng đồng và ngoài xã hội.

Âm nhạc, trong đó có nhạc cụ và dân ca, cũng là một trong những đặc trưng văn hóa phi vật thể của các tộc người thiểu số Tây Nguyên, nằm trong không gian văn hóa đã được ghi danh là di sản đại diện của nhân loại. Việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy toàn diện những nét văn hóa này luôn là điều phải được coi là quan trọng đối với hoạt động văn hóa ở Tây Nguyên, bên cạnh việc phát triển kinh tế bền vững.

ĐĂNG BÌNH LUẬN