You are here

Những bức tranh trong phòng triển lãm (chuyển soạn cho dàn nhạc)

Tác giả: 
Ngọc Tú (Tổng hợp)

Tác giả: Maurice Ravel. Chuyển soạn lại từ tác phẩm dành cho piano độc tấu cùng tên của Modest Mussorgsky.

Thời gian sáng tác: Năm 1922.

Công diễn lần đầu: Ngày 19/10/1922 tại Paris dưới sự chỉ huy của Serge Koussevitzky.

Độ dài: Khoảng 35 phút.

Thành phần dàn nhạc: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 3 oboe (oboe 3 kiêm English horn), 2 clarinet, bass clarinet, 2 bassoon, contrabassoon, alto saxophone, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, snare drum, bass drum, rattle, whip, cymbals, triangle, tam-tam, glockenspiel, bell, xylophone, celesta, 2 harp và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Những bức tranh trong phòng triển lãm của Mussorgsky là một tác phẩm tuyệt vời. Nó là một viên ngọc quý trong kho tàng các tác phẩm dành cho piano độc tấu. Và viên ngọc này càng trở nên lộng lẫy và rực rỡ khi được Ravel chuyển soạn cho dàn nhạc vào năm 1922. Kể từ đó, Những bức tranh trong phòng triển lãm trở thành một trong những tác phẩm hiếm hoi, được biểu diễn và thu âm thường xuyên dưới cả hai phiên bản: dành cho piano độc tấu và dàn nhạc.

Bản thân Mussorgsky chưa bao giờ có ý định chuyển soạn tác phẩm của mình cho dàn nhạc. Thậm chí phiên bản gốc của ông cũng chỉ được xuất bản vào năm 1931, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của nhà soạn nhạc. Tác phẩm được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1886 là phiên bản được Rimsky-Korsakov sửa chữa, có một chút thay đổi so với ý đồ của Mussorgsky. Và kể từ đó Những bức tranh trong phòng triển lãm đã thu hút một lượng lớn những nhà soạn nhạc muốn biến đổi nó từ một “tác phẩm đen trắng” thành một bản nhạc với đầy đủ màu sắc. Ravel không phải người đầu tiên có ý tưởng này. Mikhail Tushmalov, học trò của Rimsky-Korsakov đã cho công diễn ra mắt phiên bản chuyển soạn của mình vào năm 1891 dưới sự chỉ huy của chính Rimsky-Korsakov. Nhạc trưởng người Anh Henry Wood cũng công bố phiên bản của mình vào năm 1915.

Ravel là người rất hâm mộ âm nhạc của Mussorgsky kể từ khi ông hợp tác cùng Stravinsky trong một ấn bản vở opera Khovanshchina của Mussorgsky vào năm 1913. Năm 1922, Ravel tâm sự với nhạc trưởng Koussevitzky về Những bức tranh trong phòng triển lãm. Dưới nhiệt tình bừng cháy của Koussevitzky, Ravel đã đồng ý chuyển soạn tác phẩm này cho dàn nhạc. Ravel là một nhà soạn nhạc khá đặc biệt, một số các tác phẩm của ông đều tồn tại dưới dạng 2 phiên bản: cho piano độc tấu và cho dàn nhạc. Ta có thể kể đến Pavane pour une infante défunte, Alborada del gracioso hay Le tombeau de Couperin. Nên có thể nói, chuyển soạn cho dàn nhạc là bản năng thứ hai của ông, bên cạnh sáng tác. Ravel đã làm việc với Những bức tranh trong phòng triển lãm từ cùng một ấn bản của Rimsky-Korsakov như Tushmalov hay Wood (Ravel đã thất bại trong nỗ lực tìm kiếm một phiên bản gốc của Mussorgsky), nhưng phiên bản của ông đã vượt xa họ về sự xuất sắc trong cách phối khí và khéo léo sử dụng những nhạc cụ của dàn nhạc tạo ra một hiệu quả tuyệt vời, không thể tưởng tượng được. Ravel khá trung thành với ấn bản mà ông có, chỉ bỏ đi khúc Promenade cuối cùng, nằm giữa bức tranh thứ sáu và thứ bảy và thêm một vài nốt nhạc vào bức tranh cuối cùng Cổng lớn ở Kiev.

Nội dung tác phẩm

Promenade I được bắt đầu bằng trumpet độc tấu, không nhạc cụ đệm, sau đó bè kèn đồng gia nhập, được trả lời tiếng dàn dây mềm mại hơn. Cảm giác cổ kính của khúc nhạc được tạo ra bằng cách thiết lập các tổ hợp các nhóm nhỏ nhạc cụ một cách vững chắc trước khi toàn bộ dàn nhạc chơi chủ đề chính.

Gnomus (Chú lùn) với điệu bộ nhốn nháo trên bè dây và kèn gỗ được chơi hai lần, kết thúc trên toàn bộ dàn nhạc. Những kèn gỗ ở phía trên chơi một giai điệu rùng rợn với những nét nhạc đi xuống, được celesta và bè dây nâng đỡ. Một ý tưởng nặng nề của bộ hơi được thêm vào motif nhốn nháo ban đầu, lên đến đỉnh điểm với bè dây run rẩy như gặp cơn ác mộng và những âm thanh kỳ cục của bộ hơi. Chủ đề rùng rợn trở lại, được trả lời với kèn đồng chơi tắt tiếng, kết thúc trong một sự khởi sắc điên cuồng.

Giai điệu của Promenade II được chơi trên horn, với kèn gỗ và dàn dây chơi chậm rãi ở âm vực cao trang trí.

Bassoon chơi trên nền cello đều đều mở đầu Il Vecchio Castello (Lâu đài cổ). Chủ đề chính được thể hiện trên alto saxophone. Dàn dây và kèn gỗ tạo nên một không khí lãng mạn, mơ hồ.

Promenade III với giai điệu tương tự như Promenade I. Đoạn nhạc kết thúc với những tiếng pizzicato từ đàn dây.

Những tiếng kèn gỗ hối hả bị tiếng dàn dây chơi pizzicato ngắt quãng mô tả lũ trẻ chơi đùa trong Tuileries (Vườn Tuileries). Một chủ đề trên violin mượt mà hơn nhưng vẫn tràn đầy sức sống lướt qua. Âm nhạc tiếp tục tiến về phía trước cho đến khi ý tưởng mở đầu xuất hiện trở lại, kết thúc trong sự dí dòm, vui tươi.

Phần phối khí của Ravel trong Bydło (Gia súc) ban đầu rất lặng lẽ, miêu tả một chiếc xe bò tiến lại từ đằng xa, phù hợp với phiên bản của Rimsky-Korsakov. Nhưng ý tưởng của Mussorgsky là bắt đầu đoạn nhạc với cường độ fortissimo (ff) nhằm miêu tả cận cảnh chuyến xe bắt đầu hành trình của mình, âm nhạc được đẩy đến cao trào (con tutta forza) rồi đến một đoạn diminuendo và kết thúc rất khẽ khàng pianississimo (ppp) khi chiếc xe đã dần rời xa. Ở đây, một màn độc tấu hiếm hoi của tuba xuất hiện và rồi âm nhạc được đẩy tới một cao trào mãnh liệt, với snare drum làm tăng thêm cảm giác dữ dội. Những con vật đã đi xa, những nốt trầm của harp và double bass khép lại chương nhạc.

Những nét lướt mạnh mẽ của dàn dây được thêm vào tiếng kèn gỗ thanh lịch tạo nên một không khí mùa thu tao nhã của khúc Promenade IV, được xây dựng tới một cao trào trước khi tiến vào chương tiếp theo.

Ravel đã sử dụng một bảng màu tinh tế của kèn gỗ, harp và dàn dây chơi pizzicato với màu sắc của bộ gõ tạo nên bầu không khí vui tươi của chương Ballet des poussins dans leurs coques (Vở ballet của những chú gà không nở).

Một tuyên bố cộc cằn được ra trên âm vực thấp của kèn gỗ và dàn dây chơi đồng âm trong Samuel Goldenberg và Schmuÿle. Các hợp âm của kèn gỗ được trumpet chơi tắt tiếng hỗ trợ, ban đầu tạo nên một không khí bực dọc, nóng nảy nhưng dần trở nên lịch sự và tao nhã hơn trước khi chủ đề cộc cằn trở lại. Một ý tưởng ấm áp hơn xuất hiện trước khi dàn nhạc kết thúc trong mạnh mẽ.

Ravel đã bỏ qua khúc Promenade cuối cùng của Mussorgsky, tiến thẳng vào bức tranh thứ bảy Limoges, le marché (Chợ ở Limoges). Những tiếng vĩ cầm bận rộn gợi lên một khung cảnh chợ ầm ĩ, được nhấn mạnh với kèn gỗ và bộ gõ, bao gồm cả celesta. Horn xuất hiện làm tăng thêm sự hỗn loạn, nhưng sau đó âm nhạc trở nên nhẹ nhàng hơn, dù vẫn có sự lộn xộn nhất định.

Hợp âm trang nghiêm của kèn đồng, kèn gỗ ở âm vực thấp và double bass tạo nên sự sầu thảm trong Catacombae: Sepulchrum Romanum (Hầm mộ: Mộ của người La Mã). Sự tương phản về cường độ được thể hiện rất rõ rệt. Một đoạn độc tấu của trumpet làm tăng thêm sự thê lương. Chủ đề Promenade được tái hiện trong Cum mortuis trong lingua mortua (Với người chết bằng ngôn ngữ chết chóc) qua tiếng violin thanh tao và kèn gỗ trang nhã, dù vậy vẫn toát lên một không khí thinh lặng ma quái.

Tâm trạng buồn bã ngay lập tức bị phá vỡ bằng chương nhạc tiếp theo: Túp lều trên chân của một con gà mái (Baba Yaga). Âm nhạc chuyển động nhanh, tương phản với tiếng trumpet lanh lảnh. Kèn đồng ganh đua, tạo nên một không khí khẩn cấp. Những hợp âm mạnh mẽ của dàn nhạc báo trước sự trở lại của chủ đề lanh lảnh của trumpet đầu chương nhạc.

Tiếng kèn đồng mạnh mẽ, đầy kiêu hãnh vang lên mở đầu chương cuối The Great Gate of Kiev (Cổng lớn ở Kiev). Giai điệu hoành tráng này được xen kẽ với tiếng kèn gỗ mềm mại hơn. Những dòng chảy như thác của bè dây và kèn gỗ tô điểm cho kèn đồng. Nét giai điệu trữ tình của kèn gỗ trở lại trước khi khúc quân hành rộn ràng trên kèn đồng trở lại. Chủ đề Promenade xuất hiện xuyên qua sự u ám như ánh sáng mặt trời xuyên qua sương mù. Những tiếng chuông của nhà thờ đạo Chính thống ngân vang, xây dựng cho tác phẩm một kết thúc mỹ mãn.

Koussevitzky đã công diễn phiên bản Những bức tranh trong phòng triển lãm của Ravel tại Paris vào ngày 19/10/1922 và giành được thành công vang dội. Sau khi thưởng thức sự chuyển soạn tuyệt vời của Ravel, Wood đã rút lại phiên bản của mình và huỷ bỏ toàn bộ các buổi biểu diễn được ấn định trước. Sau này còn một số người chuyển soạn tác phẩm của Mussogrsky cho dàn nhạc như Leopold Stokowski, Vladimir Ashkenazy, nhưng không một phiên bản nào xuất sắc và đạt được thành công rực rỡ như của Ravel. Những bức tranh trong phòng triển lãm của Ravel đã làm tăng thêm sự nổi tiếng cho phiên bản gốc của Mussorgsky đồng thời khẳng định tài năng xuất chúng về phối khí cho dàn nhạc của Ravel.

(Nguồn: https://nhaccodien.vn/)

ĐĂNG BÌNH LUẬN