Tác giả: Lê Hải Đăng

Dân tộc là một khái niệm phổ biến, cũng giống như văn hóa, một đặc trưng thuộc về loài người. Nói cách khác, con người vừa là sản phẩm của văn hóa, vừa thể hiện thuộc tính dân tộc. Khi đề cao yếu tố dân tộc trong trường hợp nào đó vô hình trung đã hạ thấp, thậm chí triệt tiêu trong những trường hợp khác, như hiện tượng gọi người dân tộc thiểu số là người dân tộc! Không lẽ dân tộc đa số, người Kinh không phải là dân tộc? Chưa kể cách gọi này không cung cấp chỉ báo cần thiết. Chẳng khác nào ai đó gọi bạn là người vậy. Hệ quả là, nhiều người Kinh tuy sống chung với đồng bào thiểu số, nhưng chẳng biết hàng xóm của mình thuộc dân tộc nào. Nếu biết rõ dân tộc Chăm, Kh’mer, Mạ hay Ê Đê… bạn đã có thêm thông tin, đồng thời có khả năng chuyển hóa nhận thức thành tri thức. Tương tự như vậy, khi nghe ai giới thiệu biết chơi nhạc cụ dân tộc, bạn chưa thể biết người ấy chơi đàn, sáo hay trống? Đàn tranh, đàn bầu, tỳ bà, sáo, nhị, trống… tất cả đều là nhạc cụ dân tộc. Nếu nghe giới thiệu, tôi học đàn bầu, đàn tỳ bà… câu nói tuy ngắn gọn, nhưng đã rõ nghĩa.
Như trên đã khẳng định, dân tộc là một đặc trưng thuộc về loài người. Không hề có chuyện dân tộc thiểu số là người dân tộc, còn dân tộc đa số thì không. Khái niệm dân tộc và văn hóa có điểm giống và khác nhau. Trên phương diện dụng ngôn, văn hóa thường hiểu theo nghĩa rộng, trong khi dân tộc lại hiểu theo nghĩa hẹp. Nếu làm ngược lại, phạm trù văn hóa sẽ trở nên chật trội, còn dân tộc thì mơ hồ, thậm chí tối nghĩa. Ở nước ta hai khái niệm này thường dùng trái ngược nhau, như: Khu phố văn hóa, Làng văn hóa, Gia đình văn hóa, trình độ văn hóa… những khái niệm hẹp của văn hóa. Khái niệm dân tộc lại mở rộng đến cấp quốc gia, như Phong trào giải phóng dân tộc…
Trên thực tế, khái niệm dân tộc càng thu hẹp phạm vi, nội hàm càng rõ ràng, như dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Chăm… ngược lại nếu mở rộng phạm vi thì nội hàm tối nghĩa, như dân tộc Mỹ, dân tộc Trung Quốc…, kể cả dân tộc Việt Nam. Bởi trong một quốc gia có thể có nhiều dân tộc. Tình trạng dịch chuyển cơ cấu dân cư diễn ra rất phức tạp. Dân tộc này có thể di trú, cộng cư, hỗn huyết với dân tộc khác. Có quan niệm cho rằng Việt Nam là một dân tộc! Trên thực tế, Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc. Theo tiến trình biến đổi văn hóa, mỗi tộc người, nền văn hóa biến chuyển từ tình trạng cách ly sang xu hướng lựa chọn, rồi cộng tồn với các tộc người, nền văn hóa khác. Nói như nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng: “Trên thế giới không có nền văn hóa nào còn trinh nguyên”, đồng thời yếu tố dân tộc thể hiện ở tất cả tộc người trên thế giới. Xuất phát từ hệ lụy lịch sử, nhiều tổ chức ở ta có thói quen dựa vào yếu tố “dân tộc” để định danh, như: Khoa Âm nhạc Dân tộc, Dàn nhạc Dân tộc, Đoàn ca múa nhạc Dân tộc… Chủ nghĩa Lãng mạn ra đời nửa đầu thế kỷ XIX thực chất là một phong trào âm nhạc dân tộc. Giai đoạn đầu người ta dùng khái niệm dân tộc áp lên trào lưu này. Cùng với sự phổ biến của âm nhạc lãng mạn, yếu tố dân tộc dần dần không lấy làm căn cứ định danh, mặc dù nhà soạn nhạc F. Chopin có nhiều tác phẩm thể hiện đặc trưng âm nhạc Ba Lan, Tchaikovsky sử dụng chất liệu âm nhạc Nga, Grieg có yếu tố Nauy… Khi thuộc tính riêng vươn tới giá trị phổ quát, nó tự nhiên trở thành đặc điểm chung. Những trào lưu âm nhạc như Hip hop, Rap, Jazz, Flamenco, Latinh… đều đi ra từ một tộc người hay nền văn hóa, sau khi phổ biến chúng không lấy dân tộc làm căn cứ định danh mà dựa vào bản sắc, đặc trưng riêng.
Ở nước ta có nhiều tổ chức, nhạc cụ dán mác dân tộc, nhưng không hề phụng sự một mục tiêu là âm nhạc dân tộc. Cách định danh này dễ gây ngộ nhận cho cả người bên trong lẫn bên ngoài. Bởi, từ lâu nhiều tổ chức, cá nhân nhân danh âm nhạc dân tộc, nhưng không hề giới hạn nhiệm vụ, mục tiêu vào việc bảo lưu âm nhạc truyền thống. Việc duy trì danh xưng dân tộc nếu không cẩn trọng chỉ tự làm khó mình, thậm chí ràng buộc, hạn chế khả năng sáng tạo. Khái niệm dân tộc sinh ra gắn với một giai đoạn lịch sử nhất định. Bước vào thời kỳ phát triển, “dân tộc” cũng phải chuyển mình thích ứng với tình hình mới, tiếp nhận tư duy khai phóng, hệ giá trị dân chủ, văn minh, tiến bộ… Nhiều quốc gia trên thế giới đã dựa vào giá trị dân chủ nhằm tiếp cận những vấn đề liên quan đến dân tộc. Bộ máy nhân sự hay tổ chức dàn nhạc (biên chế), kể cả nhạc cụ giống như cơ sở “sản xuất âm thanh”, quy mô lớn hay nhỏ có thể khác nhau, nhưng đặc điểm, tính chất nằm trong bản thể âm nhạc, chứ không nằm ngoài cơ cấu tổ chức hay hình tướng nhạc cụ. Âm nhạc là loại hình nghệ thuật thính giác rất dễ gây nhầm lẫn về mặt thị giác, như đàn tỳ bà, đàn tranh, đàn nhị… mặc nhiên coi là nhạc cụ dân tộc, đàn violon, đàn guitar… là nhạc cụ phương Tây. Xét về yếu tố thị giác có thể tạm thời chấp nhận, nhưng đứng ở góc độ thính giác thì chưa chắc. Đàn tỳ bà mà gắn phím định âm theo thang âm Bình quân, sử dụng tư duy hòa thanh, kết hợp với nhau theo tổ, bộ… và đặc biệt là diễn tấu tác phẩm viết theo tư duy âm nhạc phương Tây thì nó chỉ đóng vai trò nhạc cụ thôi. Dân tộc hay không phải suy xét ngôn ngữ biểu hiện ở từng tác phẩm. Chưa kể, đối với dàn nhạc có biên chế hỗn hợp nên quy về dân tộc nào? Tây hay ta, dân tộc đa số hay thiểu số? Trong chính trị có cơ chế đại diện, chứ trong văn hóa, nghệ thuật không cá nhân, tộc người nào có quyền đại diện cho cá nhân, tộc người khác. Nhiều dàn nhạc mang tiếng dân tộc, nhưng kết cấu hỗn hợp, diễn tấu tác phẩm theo tư duy, thẩm mỹ phương Tây, có chỉ huy… xét cả yếu tố thị giác lẫn thính giác đã không thể khẳng định tính chất dân tộc. Ngược lại, đàn guitar phím lõm, violon… tham gia diễn tấu nhạc tài tử, sân khấu cải lương, dù hình tướng vẫn là Tây, nhưng ngôn ngữ âm nhạc lại thuộc về Ta.
Đối với nghệ thuật âm nhạc phải dựa vào đặc điểm âm thanh nhằm xác định tính chất, không thể “bám chấp” vào hình tướng, công cụ phát thanh (kể cả nhạc cụ lẫn con người). Tác phẩm mới có thể kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, sáng tác theo phong cách thể nghiệm, quan trọng là thực thể âm thanh của nó - căn cứ then chốt nhằm xác định tính chất cũng như yếu tố định danh. Theo thiển ý cá nhân, thay vì dán mác “dân tộc” cho nhạc cụ truyền thống, tổ chức âm nhạc, có thể gọi tên theo mấy cách sau:
Thứ nhất, gọi tên theo thể loại, như: tuồng, chèo, cải lương, ả đào, chầu văn, nhã nhạc, bài chòi, hát ru, lý, hò, vè…
Thứ hai, gọi tên theo tộc người cụ thể, như: hát yalyao của người K’ho, hát then của người Tày, hát tăm pớt của người S’tiêng, hát mo của người Mường…
Thứ ba, gọi tên theo vùng miền, như: ca Huế, tài tử Nam Bộ, quan họ Bắc Ninh, hò Bạc Liêu, hò Đồng Tháp, cồng chiêng Tây Nguyên…
Thứ tư, đặt tên riêng, như Câu lạc bộ Phú Xuân, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, Đông kinh cổ nhạc…
Thứ năm, đặt tên theo quốc gia, tỉnh, thành… như các đoàn nghệ thuật của từng địa phương trên phạm vi cả nước.
Thứ sáu, đối với những loại hình âm nhạc không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhưng vẫn bảo lưu trong đời sống văn hóa có thể áp dụng khái niệm dân gian (xét về mặt không gian) và truyền thống (xét về mặt thời gian), như Bèo dạt mây trôi - dân ca Bắc bộ, Xuân nữ - âm nhạc truyền thống Huế, Tó le - âm nhạc truyền thống Nam bộ…
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Dân tộc và quốc gia là hai khái niệm khác nhau. Bằng chứng là trên Căn cước công dân không hề có cụm từ Dân tộc Việt Nam. Đối với âm nhạc, căn cứ định danh, phân loại phải dựa vào thực thể âm thanh, tránh tình trạng sử dụng khái niệm rộng, nhưng nội hàm rỗng. Trong quá trình biến đổi văn hóa, căn cứ định danh phải mang tính ổn định, vươn tới giá trị trường tồn.