Tác giả: ThS. Văn Thu Bích
Tóm tắt
Bài viết tập trung làm rõ quá trình giao lưu, tiếp biến giữa âm nhạc Việt và âm nhạc Chăm trong tiến trình lịch sử, bắt nguồn từ những điều kiện tự nhiên, lịch sử và quá trình cộng cư, cận cư, xen cư kéo dài nhiều thế kỷ. Từ những cuộc tiếp xúc từ thế kỷ X, âm nhạc Chăm đã từng bước tạo ảnh hưởng nhất định đến âm nhạc Việt, đặc biệt trong các loại hình dân ca, hò, lý, hát lễ và âm nhạc truyền thống. Bài viết cho thấy dấu ấn Chăm có thể nhận diện qua nhiều vùng âm nhạc của Việt Nam, từ Quan họ Bắc Ninh, dân ca Huế, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ đến Tây Nguyên và Nam Bộ. Những nét tương đồng thể hiện ở giai điệu, tiết tấu, cách luyến láy, điệu thức và sắc thái âm nhạc. Một số làn điệu như Nam Ai, Nam Bằng, các điệu lý, hò lao động và hát giao duyên được đặt trong mối quan hệ giao lưu, tiếp biến Việt - Chăm. Không chỉ ở dân ca, sự giao lưu còn thể hiện rõ trong nhạc cụ truyền thống. Nhiều nhạc khí của hai cộng đồng có cấu tạo, chức năng tương đồng như kèn Sona/Saranai, đàn nhị/Ka nhí, đàn tranh/Champi và đàn bầu/Kaping.
Từ đó, bài viết khẳng định giao lưu Việt - Chăm là một quá trình lịch sử lâu dài, sâu sắc và hai chiều, góp phần hình thành diện mạo phong phú của văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, các giá trị này tiếp tục được bảo tồn, khai thác trong nghiên cứu, biểu diễn và sáng tác nghệ thuật, qua đó góp phần phát huy di sản văn hóa Chăm và làm nổi bật mối quan hệ lịch sử, văn hóa giữa các cộng đồng trên vùng đất miền Trung.
Từ khoá: Âm nhạc Việt - Chăm, giao lưu, bảo tồn, phát huy.
1. Tiến trình lịch sử
Quá trình giao lưu, tiếp biến giữa âm nhạc Việt với âm nhạc Chăm bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên lẫn điều kiện lịch sử từ thế kỷ X đến nay, trong đó có tiến trình 555 năm vùng đất xứ Quảng. Quá trình ấy đã lưu dấu cho đến nay trong lĩnh vực âm nhạc dân gian của hai dân tộc Việt - Chăm.
Sử sách từng ghi nhận: Vào năm 982, khi vua Lê Đại Hành (980 - 1005) tiến công vào Champa, ông đưa về Đại Việt một vị hòa thượng người Ấn Độ và 100 cung nữ, các nhạc công của nước Việt phải tập diễn tấu nhạc Chăm để đệm cho số cung nữ này múa hát, đây cũng chính là dịp để nghệ thuật âm nhạc Việt tiếp xúc với nghệ thuật âm nhạc Chăm. Ngoài ra, các bức tượng Chăm trên các tháp cổ cũng đã ghi lại hình ảnh các tiên nữ múa hát trong cõi thanh tịnh, thuần khiết. Những hiện tượng này có thể phần nào đã ảnh hưởng đến nghệ thuật ca múa nhạc của người Việt.
Nổi bật nhất trong nghệ thuật âm nhạc của Chăm là dòng âm nhạc nghi lễ. Vì người Chăm quan niệm rằng âm nhạc là của thần thánh, cho nên âm nhạc của họ thường mang tính chất trầm lắng, u buồn. Trong lịch sử, âm nhạc Chăm đã không có những khúc nhạc mạnh mẽ, hùng tráng ngay cả trong thời kỳ hưng thịnh của vương quốc này. Và chính đặc tính âm nhạc ấy đã có ảnh hưởng sâu sắc đến âm nhạc của một số tộc người có liên quan trong cộng đồng dân tộc Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Cũng theo ghi chép của lịch sử, vào thế kỷ XI, vua Lý Thái Tông ngự giá bình Chiêm, sau khi thắng trận, nhà vua đã đưa về một số Chiêm nữ để múa hát khúc Tây Thiên. Đến năm 1202, vua Lý Cao Tông lại ra lệnh cho các nhạc sĩ trong triều phải dựa vào nhạc Chăm để soạn khúc Chiêm Thành âm. Khi chúa Nguyễn khai thác bờ cõi vào đất Chiêm, âm nhạc Việt Nam từ phía Bắc tới phía Nam đã bị ảnh hưởng của nhạc Chăm để biến thành những cung Nam ai oán.
Mặc dù âm nhạc nghi lễ là dòng nhạc chủ yếu trong nghệ thuật âm nhạc Chăm nhưng ảnh hưởng của âm nhạc Chăm đối với âm nhạc Việt, thể hiện rõ nét hơn cả là thể loại dân ca như dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca Huế, dân ca Nam Trung Bộ và dân ca Tây Nguyên. Sở dĩ có hiện tượng này là do quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa của cộng đồng người Việt xưa đối với tộc người Chăm. Một số nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Việt Nam đã phát hiện những cung bậc giống nhau giữa làn điệu dân ca Chăm và làn điệu dân ca Quan họ Bắc Ninh. Trong một số làn điệu quan họ cổ thường có những tiếng đệm i, hi, ư, hư... gần giống với phong cách các lối tụng ngâm của nhà chùa. Ngoài ra nó cũng tương tự với những điệu nam ai, nam bằng có giai điệu và tiết tấu ảnh hưởng tính chất của những khúc hát Chiêm Thành thể hiện nét buồn tĩnh lặng.
Còn về lĩnh vực di sản văn hóa vật thể, ngày nay chúng ta có thể nhận thấy kiến trúc xây dựng chùa chiền ở vùng Bắc Ninh được phỏng theo kiến trúc Chiêm Thành như: Chùa Dâu xây theo kiểu tháp Chăm, hoặc chùa Phật tích có nhiều hình chạm khắc những cung nữ Chăm đang gãy đàn, thổi sáo. Hiện tượng này cũng là một trong những bằng chứng đầy sức thuyết phục về ảnh hưởng của nền văn hóa nghệ thuật Chăm đối với vùng Bắc Ninh. Đáng chú ý là các làn điệu dân ca Chăm rất gần gũi với những điệu lý như lý Hoài nam, lý Con sáo, lý Ngựa ô của người Việt ở Bình Trị Thiên, lý Con quạ, lý Thiên thai, Xuân nữ bài chòi ở Nam Trung Bộ.
Trong dân gian đã tương truyền rằng ngày xưa, khi người Chăm chung sống hòa bình với người Việt thì người Chăm đã truyền lại nghề biển cho người Việt như đánh cá, làm mắm, đồng thời dạy đàn hát và để lại tục thờ phụng lễ tế thổ thần (thần linh cai quản vùng đất địa phương). Nhà trí thức Đàng Năng Quạ (Hữu Đức, Ninh Phước, Ninh Thuận) còn cho rằng : màu tím Huế và từ “ôn” (ông) của người xứ Huế là do ảnh hưởng Chăm. Riêng về lĩnh vực âm nhạc dân gian cũng có những ảnh hưởng đáng kể.
Trong quá trình tìm hiểu những nét đặc trưng của Dân ca Chăm, chúng ta nhận thấy nhiều câu hát Chăm thường luyến xuống một quãng 2 trưởng và lối kết câu này xuất hiện nhiều trong các điệu hò, lý, hát ru của dân ca Bình Trị Thiên. Ví dụ bài dân ca Chăm “Thay mai”.
Thay mai (Ai đến phía xa): Ai kia đang tới phía xa/Hỡi người tình/Người tình mà em vẫn đợi/Vẫn chờ hàng bao tháng năm (Hai âm cuối câu hát là nốt la sol – quãng 2 trưởng). Tương tự bài Hát ru dân ca Quảng Nam: À ơ ớ ơ ơ! Chiều chiều ông Lữ đi câu, bà Lữ đi xúc con dâu đi mò/Bà về bà nấu bà kho/Con dâu đứng ngó, bà cho cái càng/À ơ ớ ớ ơ ớ (Hai âm cuối câu hát là nốt la sol – quãng 2 trưởng)
Có một bài hát mang tính chất hò lao động lại được tìm thấy trong một sinh hoạt nghi lễ, đó là bài MưkJal (Vãi chài). Có thể, trước đây trong đời sống của người Chăm còn tồn tại một hình thức ca hát, đó là hát lao động với tiết tấu đều đặn, nhịp nhàng để thay hiệu lệnh điều khiển động tác trong khi lao động cho đồng bộ, hơn nữa tạo thêm tinh thần phấn chấn vui vẻ mà quên đi mệt nhọc. Hình thức hát hò này rất gần với các điệu hò lao động của người Việt.
Theo nhạc sĩ Tô Đông Hải, có những bài hát lao động của người Chăm mang âm hưởng của các loại hò lao động trên sông nước tiêu biểu của người Việt ở miền Trung và Nam Trung Bộ, như các loại hò mái nhì, hò mái đẩy ở Bình Trị Thiên, hò khoan, hò chèo thuyền ở Quảng Nam - Đà Nẵng, hò mái trường, hò mái đoản, hò chèo ghe ở Bến Tre. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy sự tương đồng về mặt giai điệu giữa các bài hát giao duyên của người Chăm với các bài hát giao duyên của các tộc người khác, đặc biệt là người Việt sống cận cư, cộng cư và xen cư với người Chăm.
Khi nghe những bài dân ca Chăm, chúng ta không cảm thấy xa lạ vì những nét nhạc đó rất gần gủi với dân ca người Việt, đặc biệt là dân ca miền Trung và miền Nam. Sự gần gủi này chẳng những bắt gặp ở những bài dân ca mà cả trong một số làn điệu hát lễ, có lẽ cũng bắt nguồn từ nhưnîg bài hát dân gian Chăm xa xưa mà ra. Sự giao thoa văn hóa cũng như giao lưu tiếp biến âm nhạc giữa những tộc người đã từng chung sống với nhau trên cùng một vùng đất, là điều không có gì đáng ngạc nhiên.
Bên cạnh đó, những nét tương đồng về điệu thức giữa dân ca Chăm và dân ca Việt đã dẫn đến giả thuyết cho rằng người Chăm đã sử dụng điệu thức gần giống Dorien trên địa bàn cư trú của họ ngày xưa, trải dài từ Trung Bộ đến miền Đông Nam Bộ. Điệu thức này đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến dân ca Huế, dân ca Nam Trung Bộ, nhạc tuồng và nhạc cổ truyền Nam Bộ có tên gọi là hơi Ai, hơi Oán. Dần dần về sau, nhạc tài tử, cải lương đã khai thác và cải biên thêm để tạo nên điệu Oán có nhiều sắc thái bi thương từ điệu Nam Ai, tương tự với những làn điệu dân ca Chăm - nguồn tài sản tinh thần mà những đoàn di dân mang theo hành trang của mình trên bước đường di cư từ miền Nam Trung Bộ tiến dần vào vùng đất xa xôi gần cuối phương Nam nước ta.
Giáo sư Trần Văn Khê cho rằng “Rõ ràng sự phân bố lan ra về phía Nam của người Việt và của âm nhạc Việt là cả một quá trình giao lưu văn hóa và hòa hợp dân tộc rộng rãi, sâu sắc và lâu dài với người Chăm, khiến cho nhạc Việt đã nhuốm màu Chăm”.
2. Giao lưu, tiếp biến giữa nhạc cụ truyền thống Việt với nhạc cụ truyền thống Chăm
Mối quan hệ giao lưu, trao đổi, tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau giữa âm nhạc dân gian Chăm, Việt và các tộc người khác là một quy luật tất yếu trong tiến trình của lịch sử.
Trong âm nhạc truyền thống của hai dân tộc có rất nhiều nhạc khí giống nhau. Trong đó có kèn Sona của người Việt (người Chăm gọi là Saranai). Đặc biệt trong một số nhạc khí thuộc Họ dây của Chăm có cấu tạo và chức năng tương tự các nhạc khí truyền thống của người Việt như đàn nhị (người Chăm gọi là Ka nhí) hiện còn lưu truyền, riêng đàn tranh (người Chăm gọi là Champi) và đàn bầu (người Chăm gọi là Kaping) nay đã thất truyền ở vùng người Chăm nhưng lại được bảo lưu và phát triển ở người Việt.
Thật ra thì mối quan hệ giao lưu, trao đổi, tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau giữa âm nhạc dân gian Chăm, Việt và các tộc người khác là một quy luật tất yếu trong tiến trình của lịch sử. Cũng như một số dân tộc Việt, người Chăm quan niệm rằng âm nhạc là một loại hình nghệ thuật của thần thánh, là phương tiện thông quan giữa con người với thần linh. âm nhạc chỉ dành riêng cho chốn thiên đường. Bởi vậy, cho tới ngày nay, ở người Chăm cũng như ở người Việt và phần lớn tộc người thiểu số nước Việt, âm nhạc thường được tấu lên trong những dịp tế lễ, cúng thần thánh. Trong hệ thống nhạc khí truyền thống của người Chăm có nhiều nhạc khí tương tự các nhạc khí người như đàn bầu (Kaping), kèn sừng trâu (Kadet), sáo (Wau), trống (Hagar), chiêng (Chêng), tù và (Asăng).
Sau giai đoạn lịch sử hàng ngàn năm giao lưu và tiếp biến văn hóa, các yếu tố Ấn Độ đã hòa nhập vào âm nhạc truyền thống cũng như những lĩnh vực văn hóa của người Chăm mà ngày nay chúng ta khó phân định được ranh giới. Song hệ quả tất yếu từ quá trình giao lưu tiếp biến giữa Ấn và Chăm là cả một kho tàng văn hóa đầy bản sắc độc đáo, trong đó âm nhạc chiếm giữ một vị trí vô cùng quan trọng và để lại dấu ấn sâu sắc trong âm nhạc dân gian Việt - Chăm.
Trở về với quá khứ của lịch sử, chúng ta biết rằng qua rất nhiều cuộc giao tranh giữa người Việt và Champa, nhân dân Việt xưa kia đã tiếp xúc thường xuyên với nhân dân Chăm. Sự trao đổi văn hóa giữa hai nước càng lưu thông sau cuộc hôn nhân giữa vua Chăm Chế Mân và công chúa Huyền Trân năm 1306. Từ đây người Chăm ngày càng hòa hợp với người Việt và dần dần trở thành một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Qua nghiên cứu tài liệu cũng như điền dã, chúng tôi thấy nhạc khí và dân ca Chăm của người Bàlamôn ở Ninh Thuận đã thể hiện một phần về những mối giao lưu văn hóa với các tộc người khác trong một hoặc vài giai đoạn lịch sử nhất định. Chính nét đặc trưng của âm nhạc Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận đã phản ánh được mối giao lưu, tiếp biến quan trọng nhất của người Chăm Bàlamôn trong suốt chiều dài lịch sử cũng như khả năng bản địa hóa của họ đối với những yếu tố tiếp thu từ bên ngoài.
Lịch sử lâu đời và nền văn hóa phong phú rực rỡ của Champa đã chan hòa vào lịch sử và văn hóa chung của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình lịch sử đấu tranh và hòa hợp ấy, mối quan hệ giao lưu văn hóa tất yếu đã hình thành và phát triển giữa hai dân tộc mà trên thực tế có thể tìm thấy qua những nét gần gũi, tương đồng trong kho tàng văn nghệ dân gian cũng như trong lĩnh vực âm nhạc dân gian của người Việt và người Chăm.
Chính vì thế, quá trình giao lưu tiếp biến này được thể hiện trong một tổng thể nguyên hợp của nền văn hóa nghệ thuật truyền thống thuộc các tộc người cùng cộng cư xen cư và cận cư trên lãnh thổ Việt Nam. Cách đây hàng chục năm, tại khu di tích lịch sử Chăm Mỹ Sơn tại Quảng Nam, các du khách trong và ngoài nước thường xuyên thưởng ngoạn các tiết mục hát dân ca, múa và nhiều trích đoạn nghi lễ Chăm.
Từ năm 2017 đến nay, chương trình thực cảnh Ký ức Hội An do công ty GAMI tổ chức tại Hội An thu hút hàng ngàn người xem hàng đêm, trong đó có màn diễn trích đoạn đám cưới công chúa nước Việt Huyền Trân và vua Chăm Chế Mân với phần âm nhạc hóa thân từ chất liệu âm nhạc dân gian Chăm khắc họa nét đặc trưng giao thoa của âm nhạc Việt và Chăm do nhạc sĩ Đức Trịnh cảm tác đã khơi gợi dòng hồi tưởng sâu thẳm, tạo ấn tượng đậm nét trong lòng khán giả về một cuộc hôn nhân lịch sử đem lại hai châu Ô và Lý mở rộng bờ cõi đất Việt về phương Nam.
Hiện nay nhiều nhạc sĩ vẫn đưa chất liệu dân gian Chăm vào sáng tác của mình như Ns người Chăm tiêu biểu nhất là NSƯT - nhạc sĩ Amư Nhân với ca khúc nổi tiếng Làng Chăm ơn Bác dựa trên điệu Chei Kathur, và nhạc sĩ Hán Văn Trà với các sáng tác mang âm hưởng Chăm đương đạị, và nhạc sĩ Inư Tuấn có các sáng tác mang đậm chất liệu âm nhạc Chăm với nhiều ca khúc nổi bật như “Thương Mẹ”, “Em là cô gái Chăm”… Bên cạnh đó các nhạc sĩ người Việt sử dụng chất liệu âm nhạc dân gian Chăm như Cao Hữu Nhạc, Đức Trịnh,...
3. Giá trị lịch sử - văn hóa, ý nghĩa và định hướng phát huy trong bối cảnh hiện nay
Về giá trị lịch sử - văn hóa, lịch sử lâu đời và nền văn hóa phong phú rực rỡ của Champa đã chan hòa vào lịch sử và văn hóa chung của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình lịch sử đấu tranh và hòa hợp ấy, mối quan hệ giao lưu văn hóa tất yếu đã hình thành và phát triển giữa hai dân tộc mà trên thực tế có thể tìm thấy qua những nét gần gũi, tương đồng trong kho tàng văn nghệ dân gian cũng như trong lĩnh vực âm nhạc của người Việt và người Chăm. Cho đến nay, những yếu tố trong tín ngưỡng, truyền thuyết dân gian, âm nhạc, múa hát dân gian của người Việt ít nhiều bắt nguồn từ Champa, trong đó thành phố Đà Nẵng còn lưu dấu nhiều di tích của Champa như các tháp cổ lớn nhỏ, giếng cổ. Đặc biệt Di chỉ khảo cổ Chăm Phong Lệ hiện ở tổ 3, thôn Hòa Thọ Đông, phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng được phát hiện vào tháng 4 năm 2011. Di chỉ khảo cổ Chăm Phong Lệ vốn có tên gọi dân gian là “Cấm” và tên trong cúng tế là “Gò Dàng xứ”. Di chỉ khảo cổ Chăm Phong Lệ được lấy tên theo tên làng Phong Lệ xưa. Có thể nói di tích Chăm Phong Lệ đã trở thành đại diện cho tất cả di tích của một thời kỳ lịch sử lâu đời của thành phố Đà Nẵng.
Về định hướng bảo tồn, phát huy trong bối cảnh hiện nay, đó là kết hợp hài hòa giữa bảo tồn nguyên bản các giá trị truyền thống với việc đổi mới, quảng bá trên nền tảng công nghệ số để tiếp cận công chúng rộng rãi hơn. Qua đó thắt chặc thêm mối quan hệ thân thiết giữa hai cộng đồng Chăm - Việt trong đại gia đình 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Do đó việc bảo tồn và phát huy nền âm nhạc Chăm và âm nhạc Việt đang cần những giải pháp căn cơ và đồng bộ với các định hướng và giải pháp trọng tâm:
- Đổi mới trong biểu diễn và sáng tạo.
- Trao truyền cho thế hệ trẻ, mở các lớp truyền dạy tại địa phương có đồng bào Chăm sinh sống và nơi có các di tích Chăm.
- Vinh danh nghệ nhân: Xây dựng chính sách đãi ngộ xứng đáng cho các nghệ nhân cao niên - những “bảo vật sống”.
- Gắn bảo tồn với đời sống cộng đồng .
- Ứng dụng công nghệ số: Số hóa kho tàng giai điệu, âm thanh các nhạc cụ dân gian Việt có nét tương đồng với hệ thống nhạc cụ truyền thống Chăm, đưa các sản phẩm âm nhạc Chăm lên các nền tảng mạng xã hội cùng âm nhạc Việt, giúp di sản âm nhạc hai dân tộc lan tỏa mạnh mẽ hơn trong đời sống hiện đại.
- Tổ chức các cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn, các chương trình giao lưu giữa các nhạc sĩ người Việt cùng các nhạc sĩ Chăm giới thiệu các tác phẩm âm nhạc có sử dụng chất liệu âm nhạc dân gian Chăm để phổ biến rộng rải trong công chúng các tác phẩm âm nhạc đậm dấu ấn giao thoa âm nhạc Việt Chăm góp phần làm thắm thiết thêm tình thân của hai dân tộc.
Chính vì thế, muốn tìm hiểu quá trình giao lưu, tiếp biến giữa âm nhạc Việt với âm nhạc Chăm, chúng ta phải đặt nó trong một tổng thể nguyên hợp của nền văn hóa nghệ thuật truyền thống thuộc các tộc người cùng cộng cư xen cư và cận cư trên lãnh thổ xứ Quảng nói riêng và Việt Nam nói chung.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRÍCH TỪ SÁCH “ÂM NHẠC TRONG NGHI LỄ CỦA NGƯỜI CHĂM BÀ LA MÔN Ở NINH THUẬN” CỦA TÁC GIẢ VĂN THU BÍCH

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Văn Khê (1958), Âm nhạc Việt Nam, Tạp chí Bách Khoa.
2. Phạm Duy (1972), Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam, Nxb Hiện đại, Sài Gòn.
3. Thụy Loan (1978), Bước dầu tiếp xúc với âm nhạc Chàm, Tạp chí Âm nhạc.
4. Phan Xuân Biên (chủ biên) (1989), Người Chăm ở Thuận Hải, Sở Văn hóa -Thông tin Thuận Hải.
5. Ngô Văn Doanh (1994), Văn hóa Chăm Pa. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
6. Lê Ngọc Canh - Tô Đông Hải (1995), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
7. Hải Liên (1999), Vai trò âm nhạc trong lễ hội dân gian Chăm ở Ninh Thuận, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.
8. Văn Thu Bích (2004), Âm nhạc trong nghi lễ của người Chăm Bà la môn ở Ninh Thuận, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
9. Văn Thu Bích (2008), Âm nhạc Chăm những giá trị đặc trưng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.