Motet Exsultate jubilate của Mozart

07:00 AM, Thứ hai, 06/04/2026
20

Tác giả: Cobeo

 

 

Thông tin chung

Tác giảWolfgang Amadeus Mozart.
Tác phẩm: Exsultate, jubilate, K. 165
Thời gian sáng tác: Năm 1773 tại Milan.
Công diễn lần đầu: Venanzio Rauzzini hát vào ngày 17/1/1773 tại nhà nhờ Theatine. Phiên bản sửa đổi (Salzburg) được Francesco Ceccarelli hát tại nhà thờ Holy Trinity (Chúa Ba Ngôi), Salzburg vào ngày 30/5/1779.
Độ dài: Khoảng 14 phút.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 4 chương:
Chương I – Exsultate jubilate – Allegro (Pha trưởng)
Chương II – Fulget amica dies – Secco recitative (La trưởng)
Chương III – Tu virginum corona – Andante (La trưởng)
Chương IV – Alleluja – Allegro (Pha trưởng)
Thành phần dàn nhạc: Soprano, 2 flute (hoặc 2 oboe), bassoon, 2 horn, organ và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Mozart đến Milan lần đầu tiên vào năm 1770 và sự thành công của vở opera Mitridate, re di Ponto (Mithridates, vua xứ Pontus) đã khiến nhà soạn nhạc trẻ tuổi quay lại đây hai lần nữa. Lần thứ ba Mozart đến nơi đây là vào tháng 12/1772 để dàn dựng vở opera Lucio Silla của mình. Mặc dù tác phẩm không giành được sự tán thưởng như Mitridate, re di Ponto nhưng Mozart rất ấn tượng với kỹ thuật tuyệt vời của ca sĩ chính castrato Venanzio Rauzzini, danh ca hàng đầu của Milan và nước Ý lúc bấy giờ. Vì vậy, trong quá trình nán lại thành phố này, ông quyết định sáng tác một tác phẩm thanh nhạc dành riêng cho Rauzzini biểu diễn. Mozart đã viết một tác phẩm thánh ca trong vài tuần tiếp theo, nhằm khai thác tối đa kỹ thuật coloratura, quãng giọng rộng và bảng màu âm thanh phong phú của Rauzzini. Ngày tháng sáng tác của Exsultate, jubilate không được ghi nhận nhưng chắc chắn diễn ra trong khoảng sau ngày ra mắt Lucio Silla (26/12/1772) và trước ngày công diễn (17/1/1773). Tác giả của phần lời cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy. Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng chính Rauzzini là người đã cung cấp cho Mozart.

Exsultate, jubilate (tiếng Latin, có nghĩa là Hãy vui mừng, hãy hân hoan!) được Mozart gọi là một bản motet. Khái niệm này khác với định nghĩa quen thuộc trước đó của các tác phẩm motet thời kỳ Phục hưng và Baroque, vốn dành cho hợp xướng đa âm, có hoặc không có nhạc đệm, thường được dùng trong phụng vụ nhà thờ. Tuy nhiên, motet được dùng ở Ý lại gắn liền với các bản cantata dành cho ca sĩ độc xướng bằng tiếng Latin, thường bao gồm hai đoạn recitative và hai aria, thường kết thúc bằng Alleluia, hoàn toàn phù hợp với Exsultate, jubilate. Về mặt tính chất, Exsultate, jubilate là sự giao thoa giữa âm nhạc nhà thờ và opera, với không khí thoát khỏi sự trang nghiêm, trầm mặc mà hướng đến sự tươi vui, trong sáng hơn. Về mặt hình thức, tác phẩm có hơi hướng của một concerto với việc chia thành 4 phần độc lập, trong đó chương I có hai chủ đề rất dễ nhận biết.

Phân tích

Chương I Exsultate, jubilate đóng vai trò phần mở đầu, được trình bày ở dạng sơ khai. Dàn dây vẽ lên chủ đề đầu tiên, sau đó flute vui tươi tô điểm một chủ đề khác, phần dàn dây được lặp lại, trùng khớp với việc ca sĩ cất tiếng hát, chính là chủ đề đầu tiên. Phần sau có sự tái hiện chủ đề, nhưng ở giọng át Đô trưởng và kết thúc bằng một codetta trong Pha trưởng.

Chương II Fulget amica dies (Ngày thân ái rực rỡ) là một recitative khô (secco recitative), một đoạn hát nói không nhạc đệm hoặc phần đệm tối giản bằng bass continuo. Chương nhạc có dạng nhị phân AB, ngắn gọn chỉ kéo dài 12 ô nhịp. Ở đây, âm nhạc bắt đầu ở điệu át Rê thứ và kết thúc ở giọng chủ La trưởng.

Chương III Tu virginum corona (Vương miện của các trinh nữ) là một khúc Andante tuyệt đẹp ca ngợi Đức Mẹ Đồng Trinh. Nhiều học giả đánh giá chương nhạc sở hữu giai điệu êm ái, hấp dẫn nhất trong giai đoạn này của Mozart. Giai điệu trôi chảy thấm đẫm sự thanh lịch vô song này được nối tiếp bằng một cadenza nhỏ và có một đột phá khi Mozart trực tiếp chuyển sang chủ đề trung tâm của chương sau, thay vì đi theo lối mòn đến một recitative thứ hai.

Chương IV Alleluia (Ca ngợi Chúa) là phần rực rỡ nhất của tác phẩm, sở hữu giai điệu quen thuộc mà đâu đó, ta sẽ còn gặp trong nhiều tác phẩm khác của Mozart sau này. Tại đây, ca sĩ thoải mái thể hiện kỹ năng thanh nhạc tuyệt vời của mình trên một ca từ Alleluja duy nhất. Tác phẩm kết thúc trong sự tươi sáng, thể hiện tài năng tuyệt vời của nhà soạn nhạc mới 16 tuổi. Nhà âm nhạc học Stanley Sadie đã đây là “một viên ngọc quý với tinh thần hứng khởi và dí dỏm… không giống bất kỳ tác phẩm nào khác của Mozart; âm nhạc của nó nói lên một cách rõ ràng sự thoải mái, phấn chấn trong tâm hồn ông khi sáng tác, cũng như niềm hân hoan và tự tin mà thành công trên sân khấu opera đã mang lại”.

Năm 1978, hai bản thảo khác của Exsultate, jubilate bất ngờ được tìm thấy tại St. Jakob, Wasserburg am Inn, vùng thượng Bavaria. So với tác phẩm gốc, hai phiên bản này có sự khác biệt ở chỗ thay flute bằng oboe, giọng chính được điều chỉnh lên Son trưởng. Qua lời của hai phiên bản này, các nhà nghiên cứu thấy được một phiên bản được dùng cho ngày lễ Chúa Ba Ngôi, với lời được thay đổi ở các chương I và II. Phiên bản khác được dùng cho ngày Giáng sinh với lời được thay đổi ở chương I. Phiên bản Chúa Ba Ngôi ra mắt vào ngày 30/5/1779 với sự tham gia của castrato Francesco Ceccarelli tại nhà thờ Chúa Ba Ngôi, Salzburg. Phiên bản còn lại không có thông tin về việc đã được công diễn hay chưa. Cho đến ngày nay, những thông tin về lý do và thời gian sáng tác những phiên bản Salzburg này vẫn chưa được khám phá.

Ngày nay, phiên bản gốc (Milan) vẫn được biểu diễn nhiều nhất. Mặc dù có chủ đề tôn giáo nhưng Exsultate, jubilate có tâm trạng vui tươi và tinh thần bay bổng đến nỗi nhà nghiên cứu âm nhạc John N. Burk đã nhận xét về nó: “Không có bản nhạc nào của ông thể hiện rõ sự hân hoan ngây thơ của cậu bé Mozart hơn thế”, chính vì vậy, tác phẩm này thường được coi là thế tục thay vì tôn giáo. Với sự vắng bóng của các castrato, soprano thường được lựa chọn để thay thế. Tuy nhiên, với cữ âm không quá cao, chỉ đến nốt La trên khoá Son, nên một số mezzo-soprano cũng đã hát tác phẩm này. Điển hình là Cecilia Bartoli.

Nhà nghiên cứu âm nhạc Alfred Einstein lưu ý rằng Exsultate, jubilate là một ví dụ hoàn hảo về sự kết hợp giữa thanh nhạc và nhạc cụ của Mozart: “Ngoại trừ phần recitative ngắn giới thiệu chương giữa, nó chỉ đơn giản là một bản concerto thu nhỏ với một Allegro, một Andante và một Presto hoặc Vivace, không hề thua kém về độ xuất sắc hay ‘dịu dàng’ so với một bản concerto nhạc cụ thực sự”. Có lẽ bầu không khí hân hoan, tràn đầy màu sắc opera của Milan là nguồn cảm hứng giúp Mozart hoàn thành tác phẩm này. Nó khác hẳn không khí ảm đạm của Salzburg và vì vậy đã mang đến những trải nghiệm tuyệt vời cho chàng trai trẻ. Đây là tác phẩm đầu tiên của Mozart ngày nay vẫn thường xuyên được biểu diễn và là điềm báo rõ ràng cho những aria được yêu thích sau này.

 

(Nguồn: https://nhaccodien.vn/)

Chia sẻ:
facebook share
instagram share instagram share

Xem nhiều