NỀN ÂM NHẠC VIỆT NAM CÓ THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG

07:00 AM, Thứ sáu, 29/05/2026
135

Tác giả: Lê Hải Đăng

 

 

“Nền âm nhạc Việt Nam thống nhất trong đa dạng” tựa như một tiên đề trong cách khái quát đặc trưng nền âm nhạc nước ta. Vế thứ hai không có vấn đề, bởi nó phản ánh cấu trúc của nền âm nhạc Việt Nam. Đối với một đất nước có nhiều tộc người, mỗi tộc người tự nhiên hình thành nền văn hóa riêng, từ đó làm nên thuộc tính đa dạng. Riêng người Kinh, tộc người chiếm đa số cũng đã có nền âm nhạc đa dạng. Âm nhạc dân gian truyền thống miền Bắc khác miền Trung và miền Nam. Mỗi vùng miền lại tiếp tục đóng góp vào sự đa dạng bằng những hình thái âm nhạc của mình. Có thể nói, đa dạng văn hóa là đặc trưng phổ biến trên thế giới, trong đó có âm nhạc. 

Ở Mỹ có âm nhạc người bản địa, âm nhạc người nhập cư. Âm nhạc Việt Nam cũng theo chân người Việt di cư tham gia vào sự đa dạng ở quốc gia này. Nhưng, nói rằng âm nhạc các tộc người, trường phái, tác giả… thống nhất với nhau thì không ổn. Bởi, tính thống nhất phải dựa trên mối quan hệ giữa các hình thái, chủng loại âm nhạc. Ngay cả loại hình âm nhạc hình thành trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng khó đạt được tính thống nhất. Vấn đề là tại sao phải thống nhất?

Trên thực tế, đa dạng là tài sản quý giá. Hãy thử tưởng tượng, nếu âm nhạc trên toàn thế giới thống nhất với nhau sẽ đơn điệu, tẻ nhạt tới mức nào? Cuối thế kỷ XX, đứng trước nguy cơ đơn sắc về văn hóa, Liên hợp quốc đã phát động chương trình hành động nhằm bảo vệ sự đa dạng văn hóa. Theo đó, các quốc gia thành viên thông qua công cụ chính sách, luật nỗ lực bảo vệ thuộc tính đa dạng của văn hóa, trong đó có Việt Nam. Như vậy, thống nhất về mặt chính trị không đồng nghĩa với văn hóa. Người ta có thể theo đuổi mục tiêu thống nhất quốc gia, thể chế chính trị, chứ thống nhất văn hóa hay âm nhạc là một thảm họa. Chẳng phải ngẫu nhiên Liên hợp quốc phải huy động nguồn lực kêu gọi chung tay gìn giữ đa dạng văn hóa. Bản sắc văn hóa hay âm nhạc chỉ thực sự phát huy trong điều kiện thuộc tính đa dạng được bảo vệ. Nói cách khác, tính tự trị của từng hình thái âm nhạc làm nên đặc trưng riêng, từ đó tạo thành bản sắc. Trong chính trị, sự thống nhất thể hiện trên phương diện hiến pháp, luật pháp, bộ máy tổ chức, cơ chế vận hành… Trong âm nhạc, tính thống nhất thể hiện qua ngôn ngữ, cơ chế biểu hiện, đặc biệt là quan niệm thẩm mỹ. Từng hình thái, dạng thức, chủng loại âm nhạc làm nên thuộc tính riêng, khó thể gộp chung vào một khuôn khổ, ngôn ngữ thống nhất.

Như chúng ta biết, âm nhạc các tộc người vốn khác nhau về cơ chế biểu hiện, quan niệm thẩm mỹ, môi trường trình diễn... Chúng có thể có những điểm chung, tương sinh, cũng có điểm riêng, tương khắc, không thể gộp chung vào một hệ thống, như: nhạc Phật giáo khác nhạc Thiên chúa giáo, nhạc tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á khác ngữ hệ Nam Đảo, Thái Tày… Đi vào từng hình thái âm nhạc cụ thể càng thấy rõ sự khác biệt, như hát Tăm pớt của người S’tiêng khác hát Yal yau của người K’ho, hát ru của người Banar khác hát ru của Mường… mặc dù đều là hát kể, hát ru.  

Người Việt có câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Câu ca dao trên đề cao tinh thần tương thân tương ái, nhưng vẫn phải thừa nhận “khác giống” vốn là một sự thực. Khác giống đôi khi rất lớn, như bộ ba trong nghệ thuật Ca trù khác bộ ba trong Ca Huế, mặc dù có thể cùng xuất hiện trên một sân khấu. Sân khấu ví như chiếc “giàn”, nói rộng ra là không gian văn hóa. Còn sự độc đáo của từng thể loại chính là nhờ “khác giống”. Để thống nhất với nhau, người sáng tạo phải tiến hành tái cấu trúc chúng trong những trường hợp cụ thể, chứ không tự nhiên hình thành, đồng thời muốn làm được việc này không hề đơn giản. Bởi, thống nhất với đối tượng “khác giống”, người sáng tạo phải biết cách “lai ghép”, kết hợp chất liệu (âm nhạc) theo ý tưởng, cấu trúc nhất quán… Hiện tượng này vẫn diễn ra trong đời sống âm nhạc, như các dòng nhạc Thể nghiệm, Đương đại, Điện tử… Quan trọng là, chúng thể hiện ở từng tác phẩm cụ thể, chứ không phơi bày trong cấu trúc nền âm nhạc Việt Nam. Nói chung, có thể khẳng định, tính thống nhất không phải đặc trưng của nền âm nhạc Việt Nam mà chỉ xuất hiện đơn lẻ trong những trường hợp cá biệt. Tính thống nhất ấy cũng chỉ thể hiện ở từng tộc người, hiện tượng âm nhạc, chứ không phản ánh bản chất của nền âm nhạc.  

Ý thức hệ là một cạm bẫy trong hoạt động tư duy. Nếu người nghiên cứu không sáng suốt nhận ra “điểm mù” trong các kết luận chưa được kiểm chứng thì ngay cả những điều tốt đẹp cũng trở nên vô nghĩa. Nhiều người nghiên cứu, thậm chí có cả “cây đa cây đề” từng bị sập bẫy ý thức hệ, đồng thời di sản của họ vẫn tiếp tục dẫn dụ, xô đẩy người đi sau rơi vào “vết xe đổ” của quá khứ.  Nói tóm lại, nền âm nhạc Việt Nam đa dạng, chứ không hề thống nhất. Nhận định “Âm nhạc Việt Nam thống nhất trong sự đa dạng” tự tạo mâu thuẫn giữa khái niệm và thực tế. Và dường như nó đã được học thuộc để sử dụng như một tiên đề nhằm khái quát nền văn hóa nói chung, âm nhạc nói riêng. Xét về bản chất, thống nhất không phải thuộc tính của nền âm nhạc Việt Nam đặt trong mối tương quan với đa dạng. Không thể lấy thống nhất về chính trị áp lên đa dạng trong văn hóa. Như vậy vô hình trung làm suy yếu tính đa dạng cần phải đề cao, đồng thời dễ gây hiểu nhầm trong cách khái quát đặc trưng nền âm nhạc. Trong khoa học, diễn đạt chính xác vô cùng quan trọng. Nó trở thành căn cứ cho suy nghĩ, hành động của con người. Suy nghĩ đúng đắn, hành động nhất quán góp phần nâng cao, cải thiện tình hình, bằng không lý thuyết và thực tiễn, tư tưởng và hành động tự tạo nên độ chênh, mâu thuẫn với nhau gây ảnh hưởng đến hoạt động thực tiễn.

Chia sẻ:
facebook share
instagram share instagram share