Tác giả: Lê Hải Đăng
Âm nhạc được ví như một loại ngôn ngữ đặc biệt. Theo đó, trong ngôn ngữ có các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, đối với âm nhạc cũng vậy.
Nghe hiểu là cách tiếp thu âm nhạc bằng thính giác.
Đọc là việc nhận diện các ký hiệu, thuật ngữ, biểu tượng… ghi trên bản nhạc.
Viết là thực hành hòa thanh, phức điệu, sáng tác… trên giấy.
Còn nói là việc dùng miệng hay nhạc cụ diễn đạt tư tưởng, tình cảm...
Trong âm nhạc, nghe nổi lên thành kỹ năng căn bản, quan trọng nhất. Âm nhạc cũng được coi là nghệ thuật thính giác, nên nghe quyết định sự tồn tại của nó. Dù bạn là ai, không cần phải có kiến thức hay kỹ năng thực hành âm nhạc, nhưng vẫn có thể trở thành thính giả của loại hình nghệ thuật này. Trong môi trường âm nhạc chuyên nghiệp, kỹ năng nghe được đề cao đến mức sản sinh hàng loạt môn học liên quan, như ghi âm, thưởng thức âm nhạc, phân tích tác phẩm, diễn tấu nhạc cụ, luyện thanh...
Nói thể hiện bằng hành động sử dụng mồm miệng hay nhạc cụ nhằm diễn đạt ý tưởng, thể hiện tâm tư, tình cảm... Xét ở góc độ này, nói dường như chưa được chú trọng. Nói cách khác, nhà trường chưa cung cấp, đào tạo học sinh, sinh viên kỹ năng nói, thay vào đó, tập trung giải quyết kỹ năng đọc. Người học chỉ cần đọc bản nhạc, học thuộc rồi thể hiện bằng âm thanh. Diễn xướng, diễn tấu tác phẩm kinh điển trong kho tàng âm nhạc đồ sộ trên thế giới là nhiệm vụ thường xuyên của học sinh, sinh viên âm nhạc (ngoại trừ khoa âm nhạc cổ truyền, nhạc jazz, nhạc điện tử…). Hiện tượng đào tạo lệch này khiến cho năng lực ứng tác của học sinh, sinh viên chưa được phát huy, thậm chí bị thui chột. Đừng nghĩ rằng trình độ của bạn cao siêu tự nhiên sản sinh khả năng ứng tác (ngẫu hứng). Hãy liên hệ với ngôn ngữ có thể nhận rõ vấn đề này. Giữa một người cầm giấy đọc bài diễn văn hay và một nhà hùng biện thao thao bất tuyệt khác nhau về bản chất. Tất nhiên, cả hai đều thể hiện tốt kỹ năng của mình, nhưng, khác nhau ở chỗ, một người giỏi đọc và một người giỏi nói. Kỹ năng nói không tự sản sinh một cách tự nhiên từ đọc. Người nói giỏi chưa chắc đã đọc hay và ngược lại. Nếu thông thạo hoặc chí ít được rèn luyện cả hai kỹ năng nói và đọc, một ngày chúng mới có khả năng liên thông với nhau nhằm phát huy tác dụng, từ đó trở thành nguồn lực thôi thúc khả năng ứng biến, sáng tạo.
Đối với người học nhạc chuyên nghiệp, âm nhạc cũng giống như “tiếng mẹ đẻ” mà các kỹ năng tương ứng cần phải tiếp thu, kiện toàn. Đừng nghĩ tác phẩm kinh điển đã được các nhà soạn nhạc viết ra một cách hoàn hảo, chúng ta chỉ cần cụ thể hóa bằng âm thanh. Nói như thế chẳng khác nào đồng nhất lời hay ý đẹp của các bậc hiền triết với ngôn ngữ sử dụng hàng ngày. Lời hay ý đẹp của tiền nhân vẫn có giá trị nhất định, nhưng không đại diện cho lời nói của chúng ta. Với tư cách một con người có tư tưởng độc lập, tình cảm riêng biệt và một linh hồn duy nhất ngự trị bên trong thể xác thì đừng bao giờ lạm dụng lời lẽ của người khác. Trên thực tế, một mặt chúng ta phải học tập lời hay ý đẹp của tiền nhân, mặt khác phải không ngừng nỗ lực học cách diễn đạt tư tưởng, tình cảm của riêng mình. Ban đầu lời lẽ ấy có thể ngô nghê, thô kệch, như thơ Lưu Quang Vũ trong bài “Tiếng Việt” viết:
“Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Điều anh nói hôm nay chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu”.
“Lời thứ nhất” là bài học vỡ lòng ban sơ, chất chứa sự ngô nghê, vụng về, thơ dại… Còn “lời yêu” chính là tiếng nói của tình cảm, có khả năng nâng lên thành nghệ thuật. Quá trình học nói trong âm nhạc cũng diễn ra tương tự. Ban đầu chúng ta đi từ mô phỏng đến sáng tạo. Trên thực tế, kỹ năng ngẫu hứng có thể xa lạ với người học âm nhạc cổ điển, nhưng chính là “hồn cốt” của nhiều loại hình âm nhạc, như nhạc Jazz, Flamenco, nhạc cổ truyền Ấn Độ, nhạc Tài tử Nam Bộ…
Khi xem video nghệ sĩ piano Hiromi Nhật Bản biểu diễn nhạc Jazz trên sân khấu lộ thiên, bỗng có tiếng chuông nhà thờ từ xa vang lên. Hiromi bèn đàn chậm lại, rồi phối hợp với tiếng chuông bằng một tiết mục song tấu [phút thứ 4.52 trong clip cuối bài].
Trong lịch sử âm nhạc xuất hiện những câu chuyện mô tả khả năng ứng tác của nhiều nhà soạn nhạc vĩ đại, từ J.S Bach đến V.A. Mozart, L.V. Betthoven, F. Chopin, F. Liszt… Trong đó, L.V. Betthoven còn lấy bè Cello, rồi lật ngược lại đàn ngẫu hứng bằng piano. Câu chuyện trên tựa như một huyền thoại. Song, khi nghe Hiromi xử trí trước tình huống xuất hiện bất ngờ tiếng chuông nhà thờ thì dường như đó là một kỹ năng có thể học tập, rèn luyện. Thay vì tô đậm màu sắc huyền thoại cho các hiện tượng, chúng ta có thể thay đổi nhận thức, cải thiện tình hình bằng giáo dục.
Trong âm nhạc có rất nhiều thể loại mang dấu vết của nghệ thuật ngẫu hứng, như Prelude, Biến tấu, Impromtu, Cadenza trong tác phẩm Concerto… Chúng vốn là “hóa thạch” của nghệ thuật ngẫu hứng, Có những nhà soạn nhạc mà tác phẩm dường như sinh ra từ nghệ thuật ngẫu hứng, như F. Chopin, đặc biệt là F. Liszt. Nhiều tác phẩm của Liszt có lẽ đã sinh ra từ hình thức ngẫu hứng rồi tác giả mới ghi lại! Vấn đề nằm ở chỗ, nói trong ngôn ngữ hay ngẫu hứng trong âm nhạc vốn là một kỹ năng có thể học tập, rèn luyện, nhưng nhà trường chưa đào tạo cho học sinh, sinh viên. Đây là một khiếm khuyết cần bổ túc. Nhìn ở góc độ ngôn ngữ, nói là một kỹ năng mà con người phải thực hành cả đời. Cái gì dùng nhiều đều quan trọng. Ngẫu hứng có thể ví như nói trong âm nhạc. Nó có thể chưa thật cần thiết với nhiều người, thậm chí chỉ cần nắm vững một trong bốn kỹ năng nghe - nói - đọc - viết cũng đã đủ dùng. Nhưng, với khả năng của một loại hình nghệ thuật được xem xét qua lăng kính ngôn ngữ, nói góp phần làm nên tính toàn diện của nó trong mối tương quan giữa các kỹ năng.
Xem Hiromi ngẫu hứng với chuông nhà thờ tại đây