Tác giả: Nguyễn Thị Minh Châu

Theo hồi ký Âm thanh cuộc đời của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, bài hát được viết vào năm 1947, nhưng bản nhạc in trong phụ lục cuốn sách đó ghi năm 1946 - có lẽ do sơ xuất?
“Tôi biết có những điệu nhạc buồn của tôi đã đi sâu vào lòng người, nhưng nhạc sĩ đâu chỉ sống cho riêng mình, mà cần phải vui, phải theo nhịp đời chuyển biến” và: “Do nhu cầu của Đoàn nghệ sĩ, cần có một bài Đoàn ca, tôi suy nghĩ viết ra một bản nhạc khác hẳn cách viết xưa của mình”.
Thế là ra đời Đoàn lữ nhạc trẻ trung sôi nổi, một nhóm nghệ sĩ nay đây mai đó, say sưa mang lời ca tiếng hát gieo niềm vui tươi mới cho đời. Không cần gồng gánh nội dung chính trị lớn lao, tác giả để tâm nhiều hơn đến nghệ thuật biểu hiện, tìm tòi thêm những cái mới bên cạnh những nét đặc trưng đã có trong những bài trước đó.
Ta đi khắp nơi xa vời,
Gió bốn phương, kìa gió bốn phương
Ào ào cuốn lá rơi,
Người đi tiếng nhạc chơi vơi
Rắc khắp nơi, kìa rắc khắp trời
Vang vang khúc ca say đời.
A ha! Ha ha…
Lại gặp lối lặp vần ơi - vời - rơi - trời - đời - chơi vơi…, điểm thêm các từ láy ào ào, vang vang…; rồi xôn xao câu hỏi “đâu-đâu?”, rộn ràng theo nhịp bước reo-reo-reo-reo và chuỗi điệp từ tựa như tiếng vọng xa dần: đi là đi - là đi - là đi - là đi… Lối chơi quen thuộc lặp vần lặp từ lặp câu cứ thế dồn dập nối nhau chen lẫn những thán từ ha-ha, ôi-ôi-ôi, ô-ô-ô-ô…
Các nguyên âm “a-ô” độc quyền chiếm toàn bộ giai điệu mở đầu và đoạn nhạc 16 nhịp vuông cân không cần ngữ nghĩa đó đã cuốn người nghe vào dòng chảy nhịp nhàng. Cũng là những bước đi trong nhịp 2/4 nhưng hoàn toàn không phải bước quân hành dứt khoát đều đặn của lính tráng, mà là chuyển động uyển chuyển của “giới nghệ”, nhún nhảy lắc lư với âm hình “chấm - giật” (móc đơn chấm dôi và móc kép) xen lẫn tiết tấu nghịch đảo.
Gặp lại ở đây motif quen thuộc f-e-d (“nhạc yêu đời”) thường dùng kết câu kết đoạn trong những ca khúc trữ tình của Đỗ Nhuận. Cũng như ở Nhớ chiến khu, sự nhắc lại nguyên dạng tạo cho bài này cấu trúc ba đoạn có tái hiện. Còn gặp ở đây cách liên kết nhiều khúc nhạc độc lập gợi nhớ đến kết cấu ngẫu hứng của trường ca, và trong mỗi khúc (cụ thể là năm khúc không kể tái hiện) đều duy trì sự nhắc lại nguyên xi hoặc câu sau “bảo tồn” âm hình tiết tấu câu trước.
Sự lặp lại không chỉ ở tiết tấu mà còn ở cao độ, tạo ra chuỗi âm trùng tới bảy nốt [thí dụ 3a] và motif đay lại quãng 2 thứ với loạt biến âm trên các bậc khác nhau [thí dụ 3b]. Vì motif bán âm này mà có người nhận xét Đoàn lữ nhạc “lai nhạc Mỹ da đen”, trong khi chính tác giả lại coi “đó là những nốt nhấn nhá của cung đàn dân tộc, được hiện đại hóa lên”.
Thí dụ 3a:
Thí dụ 3b:

Dù tận dụng thủ pháp nhắc lại, bài hát vẫn mang vẻ đa dạng nhờ sự tương phản giữa các đoạn qua màu sắc trưởng - thứ (d moll và G dur) và cách trình bày luân phiên giữa đơn bè với đúp bè, khá gần với lối kể và xô trong dân gian, kết hợp với chút “Tây” trong cách đúp bè chủ yếu theo các quãng 3 và 6.
Đoàn lữ nhạc được lan truyền không chỉ trong kháng chiến chống Pháp, mà còn ở đô thị miền Nam thời Mỹ, ở hải ngoại sau 1975 và cả hiện thời với nhiều phiên bản mang tinh thần pop-rock. Cái gì đã giúp bài hát đi qua nhiều thể chế, nhiều thế hệ vậy, nhờ hợp với phong cách “nhạc trẻ” hay tác giả tình cờ đã bắt trúng kênh của “ngôn ngữ thời đại”?
Đỗ Nhuận không nghĩ xa đến vậy, ông chỉ đơn giản “coi sự sáng tạo này như một nét chấm phá ngang trong cuộc sống, như người ta đôi khi cũng cần phải uống tí rượu, để cho tâm hồn bay bổng vượt ra khỏi quy luật ‘ngang bằng sổ ngay’ của cuộc đời” và “tôi làm cái mới chỉ xuất hiện có một lần, rồi cái mới khác. Nay không thể nhắc lại cái cũ đã bị quên lãng hàng mấy chục năm mà gọi là cái mới được”.
(Trích chân dung nhạc sĩ Đỗ Nhuận của Nguyễn Thị Minh Châu)