Fauré: Sonata violin số 1

07:00 AM, Thứ sáu, 13/03/2026
8

Tác giả: Cobeo

 

 

Thông tin chung

Tác giả: Gabriel Fauré.
Tác phẩm: Sonata violin số 1 giọng La trưởng, Op. 13
Thời gian sáng tác: Năm 1875-1876.
Công diễn lần đầu: Ngày 27/1/1877 tại Salle Pleyel, Paris với Marie Tayau chơi violin và tác giả chơi piano.
Độ dài: Khoảng 28 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng người bạn thân, nghệ sĩ violin Paul Viardot.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 4 chương:
Chương I – Allegro molto (La trưởng)
Chương II – Andante (Rê thứ)
Chương III – Scherzo: Allegro vivo (La trưởng)
Chương IV – Finale: Allegro quasi presto (La trưởng)

Hoàn cảnh sáng tác

Camille Saint-Saëns là thầy giáo dạy piano của Fauré. Cũng chính Saint-Saëns đã giới thiệu cậu học trò của mình với Pauline Viardot, nữ danh ca hàng đầu châu Âu lúc bấy giờ cùng gia đình bà vào năm 1872. Fauré đề tặng một số ca khúc cho bà, nhanh chóng trở thành người bạn thân thiết của Paul, con trai của Viardot và đem lòng yêu say đắm Marianne, em gái của Paul. Vào thời điểm này, Fauré chưa hề nổi tiếng, chỉ có thể tập trung sáng tác vào mùa hè vì phải dành thời gian kiếm sống nhờ công việc trưởng ca đoàn và giảng dạy. Fauré đã dành cả mùa hè năm 1875 tại Sainte-Adresse, thuộc tỉnh Seine-Maritime, vùng Normandy để sáng tác bản Sonata violin số 1 của mình. Nhà soạn nhạc đến ở trong điền trang của nhà công nghiệp Camille Clerc, người rất ủng hộ Fauré. Phải đến năm 1876, tác phẩm mới hoàn thành. Điều này có được là do sự thúc ép liên tục đến từ Marie, vợ của Clerc. Bà luôn khích lệ và động viên nhà soạn nhạc. Fauré cũng tìm kiếm lời khuyên từ nghệ sĩ violin người Bỉ Hubert Léonard, một người bạn của gia đình Clerc về các kỹ thuật dành cho violin.

Trước khi công diễn chính thức, bản sonata violin này đã được chơi tại dinh thự của Clerc với Fauré chơi piano, còn Paul, người được đề tặng tác phẩm, biểu diễn violin. Buổi biểu diễn đã thành công ngoài sức tưởng tượng, chương III đã phải biểu diễn lại dưới sự đòi hỏi cuồng nhiệt của khán giả. Fauré vui mừng viết thư cho một người bạn: “Bản sonata của tôi tối nay đã thành công ngoài mong đợi. Saint-Saëns nói rằng ông cảm thấy nỗi buồn như của một người mẹ khi thấy con mình đã lớn đến mức không còn cần đến mẹ nữa!… Về phần người biểu diễn của tôi, tôi sẽ không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ cách cô ấy đã biến bản sonata của tôi thành của riêng mình, cách cô ấy đã dồn hết tâm huyết vào việc chơi nó. Màn trình diễn của tiểu thư Tayau thật hoàn hảo”. Saint-Saëns còn khen ngợi nhiều hơn thế trong bài viết trên Journal de Musique (Tạp chí Âm nhạc): “Trong bản sonata này, người ta có thể tìm thấy mọi điều khiến giới mộ điệu phải say mê: hình thức mới mẻ, chuyển giọng tuyệt vời, màu sắc âm thanh lạ lẫm và việc sử dụng tiết tấu đầy bất ngờ. Và một phép màu bao trùm lên toàn bộ tác phẩm, khiến khán giả thông thường cũng dễ dàng chấp nhận sự táo bạo chưa từng được tưởng tượng đó như điều hiển nhiên. Với tác phẩm này, Fauré đã ghi tên mình vào hàng ngũ những bậc thầy”.

Là nhà soạn nhạc tiến bộ nhất trong thế hệ của mình, phần lớn tác phẩm của Fauré bị coi là quá phức tạp và hiện đại để nhận được sự công nhận đáng kể cho đến cuối đời. Ngày nay, bản sonata violin này được xem là một trong những tác phẩm thính phòng phổ biến nhất của Fauré, được yêu mến nhờ sự tươi mới và sức sống, cũng như sự cân bằng đặc trưng của Fauré giữa sự tiết chế tao nhã và niềm đam mê lãng mạn. Dù cả bốn chương đều được xây dựng theo hình thức truyền thống (chương một, hai và bốn theo hình thức sonata), âm nhạc lại thể hiện một phong cách rất riêng và đầy tự tin, khác biệt hoàn toàn so với bất kỳ tác phẩm thính phòng nào từng được nghe trước đó.

Phân tích

Chương I

Chương I, ngay từ những ô nhịp đầu tiên, Fauré đã khẳng định dấu ấn cá nhân đầy độc đáo của mình: một giai điệu cantilena (giai điệu dài, trữ tình, mượt mà và dễ hát, có tính biểu cảm sâu lắng) uyển chuyển, vươn xa với đường cong rộng, vừa khoan thai vừa khẩn thiết, trải dài bất thường đến 21 ô nhịp. Ngay tại đây đã xuất hiện những dấu hiệu của sự bất ổn về hoà âm, được chuyển giọng liên tục và điều này càng được đẩy lên cao trong chủ đề chính thứ hai, một giai điệu đi xuống đầy biểu cảm vang lên ở violin, không ngừng chuyển điệu trên nền bè trầm bán cung đang đi lên. Phần phát triển sau đó lần lượt soi sáng từng chủ đề bằng những góc nhìn mới đầy tìm tòi và đạt tới cao trào trong một khoảnh khắc lặng tuyệt đẹp, khi chủ đề thứ hai bay bổng như ảo ảnh trên những hợp âm piano trầm sâu và lặng lẽ. Những quãng tám rời (xuất hiện trong tất cả các chương ngoại trừ chương hai) được Léonard khuyên sử dụng như một thủ pháp thể hiện sự điêu luyện của nghệ sĩ piano.

Chương II

Chương II là một khúc barcarolle (khúc chèo thuyền) đầy da diết và dai dẳng, rất được Fauré ưa chuộng, bắt đầu ở Rê thứ và kết thúc ở Rê trưởng. Mở đầu là tiếng violin bắt chước tiếng hát của một người lái đò thành Venice, thở dài uể oải trên nhịp đập của những hợp âm lặp đi lặp lại. Nhịp 9/8 mang đến cảm giác bất an khi barcarolle được kết hợp với những hoà âm chromatic dày đặc. Nó cũng sử dụng thủ pháp đối âm một cách mê hoặc, khi hai chủ đề liên kết đan xen một cách khéo léo. Mộng mơ và cân bằng, âm nhạc gợi lên vẻ tinh tế trong trẻo của những bức tranh màu nước. Nó bắt đầu u ám, nhưng vươn lên thành niềm vui lớn lao, khởi đầu u ám chuyển thành ấm áp và hân hoan. Các hợp âm rải đi lên ở piano trong phần mở đầu được đảo ngược trong ý tưởng thứ hai, bắt đầu bằng Pha trưởng êm ái, như muốn xoa dịu, nhưng nhanh chóng bị chuyển hướng qua một chuỗi các chuyển điệu đầy đam mê. Trong phần tái hiện, chủ đề này, được chuyển sang Rê trưởng, phát triển thành một cao trào càng mãnh liệt hơn, với kết cấu âm thanh đặc biệt phong phú và cộng hưởng mạnh mẽ.

Chương III

Bất kể có một chút vang vọng lại từ Mendelssohn, chương III mang cá tính riêng vô cùng thú vị, với kết cấu nhẹ như tơ (hãy chú ý đến những đoạn pizzicato đột ngột của violin), những chuyển điệu nhanh bất ngờ và tiết tấu lệch nhịp đùa bỡn. Phần trio ở nhịp ¾ mang đến sự chuyển biến rõ rệt về sắc thái và âm thanh: một giai điệu cantabile (có thể hát lên) đầy hoài niệm, chậm rãi, mang chút cảm xúc kiểu Schumann, trải dài một cách thong thả trên phần đệm piano êm đềm và nhấp nhô tạo nên sự tương phản hiệu quả. Nhẹ nhàng và sắc nét, chương nhạc thay đổi nhịp điệu và giọng với sự táo bạo đúng như Saint-Saëns đã nhận xét, dường như là hình mẫu cho Claude Debussy và Maurice Ravel sau này.

Chương IV

Chương kết, ở nhịp 6/8, mở đầu bằng một ý tưởng bình thản, dao động một cách mê hoặc quanh nốt Đô thăng (một đặc điểm giai điệu yêu thích của Fauré) và sau đó tương phản mạnh mẽ với chủ đề thứ hai với nhịp điệu đảo phách, sắc nét, cùng với nhiều giai điệu đối lập phức tạp đã thống trị đoạn cuối của phần trình bày. Trong phần phát triển, ba nốt đầu tiên của chủ đề mở đầu được khai thác gần như ám ảnh, trên nền một giai điệu violin mới uốn lượn, nhấn mạnh tinh tế vào quãng hai và ba, nền tưởng của ý tưởng đầu tiên. Đoạn coda cho phép violin có khoảnh khắc duy nhất phô diễn kỹ thuật trong toàn bộ tác phẩm. Tuy nhiên, đúng phong cách Fauré, những đoạn chạy ngón spiccato sáng chói ấy lại được giữ ở mức pianissimo cho đến tận những ô nhịp cuối cùng. Tác phẩm khép lại không chỉ là việc hoàn tất hay tổng kết, mà còn vượt qua cả hai điều đó bằng vẻ sống động và táo bạo.

Buổi biểu diễn thành công bản Sonata violin số 1 đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong con đường nghệ thuật của nhà soạn nhạc. Bản nhạc này cùng với Tứ tấu piano số 1 và Ballad giọng Pha thăng trưởng dành cho piano độc tấu trở thành bộ ba tác phẩm nổi bật nhất thời kỳ đầu của Fauré. Không chỉ có vậy, đây chính là khởi dầu của một kỷ nguyên mới cho nền nhạc thính phòng Pháp tinh tế, được nối tiếp chín năm sau đó bằng bản Sonata violin của César Franck. Clerc, người có mối quan hệ rất tốt với nhà xuất bản Breitkopf & Härtel nổi tiếng có trụ sở tại Leipzig đã giúp Fauré liên hệ. Tuy nhiên, Breitkopf & Härtel chỉ sẵn lòng tiếp nhận bản sonata violin nếu Fauré từ bỏ nhuận bút của mình: “Ngài Fauré không được biết đến ở Đức và thị trường đang tràn ngập các tác phẩm thuộc loại này, mặc dù chúng thường kém hơn thứ mà chúng ta đang thảo luận”. Fauré chấp nhận tất cả các điều khoản và bản sonata violin được xuất bản vào tháng 2/1877, chỉ vài tuần sau khi được công diễn. Đây là giai đoạn thăng hoa của Fauré, sau nhiều năm theo đuổi, đến tháng 7/1877, Marianne cuối cùng đã nhận lời cầu hôn của ông. Tuy nhiên, vì sợ hãi trước cường độ và sự ám ảnh trong cảm xúc của Fauré, cô nhanh chóng hủy bỏ hôn ước vào tháng 11/1877, để lại một nỗi buồn khó nguôi ngoai trong tâm thức nhà soạn nhạc.

 

(Nguồn: https://nhaccodien.vn/)

Chia sẻ:
facebook share
instagram share instagram share

Xem nhiều