Giao hưởng N3 của Brahms

07:17 AM, Thứ năm, 16/04/2026
50

Tác giả: Cobeo

 

 

Thông tin chung

Tác giảJohannes Brahms.
Tác phẩm: Giao hưởng số 3 giọng Pha trưởng, Op. 90
Thời gian sáng tác: Mùa hè năm 1883.
Công diễn lần đầu: Ngày 2/12/1883 dưới sự chỉ huy của Hans Richter và Vienna Philharmonic tại Vienna.
Độ dài: Khoảng 40 phút.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 4 chương:
Chương I – Allegro con brio (Pha trưởng)
Chương II – Andante (Đô trưởng)
Chương III – Poco allegretto (Đô thứ)
Chương IV – Allegro – Un poco sostenuto (Pha thứ – Pha trưởng)
Thành phần dàn nhạc: 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, contrabassoon, 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, timpani và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Tháng 10/1883, Antonín Dvořák viết cho nhà xuất bản của mình: “Gần đây tôi đang ở Vienna, nơi tôi đã trải qua những ngày rất tuyệt vời với Brahms, người vừa trở về từ Wiesbaden (thị trấn đẹp như tranh vẽ trên sông Rhine, Đức). Tất nhiên, anh biết đấy, ông ấy kín tiếng như thế nào về các tác phẩm của mình ngay cả với những người bạn thân nhất, nhưng với tôi, ông ấy không như vậy. Theo đề nghị của tôi muốn nghe một cái gì đó trong bản giao hưởng mới của ông ấy, ông ấy đã ngay lập tức chơi các chương đầu tiên và cuối cùng của nó cho tôi nghe. Tôi không nói quá khi cho rằng tác phẩm này vượt qua hai bản giao hưởng đầu tiên của ông ấy; nếu không phải ở tầm vóc và tư duy mạnh mẽ, thì chắc chắn là ở vẻ đẹp. Thật tuyệt vời cho việc tìm được những giai điệu!”.

Dvořák không hề thậm xưng với những nhận xét của mình, sau khi ra mắt vào tháng 12 năm đó, bản Giao hưởng số 3 của Brahms đã chinh phục được hoàn toàn cả các nhà phê bình và khán giả. Brahms, lúc này đang ở đỉnh cao của danh tiếng và sự trọng vọng đã sở hữu được một tác phẩm tràn đầy những giai điệu đẹp như Dvořák đã ghi nhận. Bên cạnh đó là màu sắc dàn nhạc rực rỡ và nhịp điệu linh hoạt tài tình, bất chấp việc đây là bản giao hưởng ngắn nhất của ông. Bên dưới sự hoàn hảo về mặt kỹ thuật là những cảm xúc mạnh mẽ. Âm nhạc của Brahms thường mang vẻ ngoài chuẩn mực và truyền thống, nhưng ẩn sâu bên trong vẫn là một tâm hồn đầy lãng mạn. Ông luôn công khai từ chối mọi nguồn cảm hứng bên ngoài cho các tác phẩm khí nhạc của mình, coi đó là âm nhạc tuyệt đối. Nhưng thực tế, Brahms đã khéo léo cài đặt vào trong đó những phép ẩn dụ bí mật và thỉnh thoảng, vào những dịp hiếm hoi, Brahms đã tiết lộ với một số bè bạn thân thiết về nguồn cảm hứng thật sự của mình. Nhà soạn nhạc không để lại bất cứ lời ám chỉ nào trong bản Giao hưởng số 3 này nhưng nhiều học giả đã khám phá ra một số điều thú vị.

Phân tích

Chương I của bản giao hưởng mở ra với ba hợp âm mạnh mẽ, nhấn mạnh vào các nốt Pha-La giáng-Pha. Hầu như tất cả các ý tưởng về giai điệu trong bản giao hưởng đều liên quan đến motif âm nhạc đơn giản này. Đây là một biến thể từ khẩu hiệu nổi tiếng FAF của Brahms, được người bạn, người viết tiểu sử nhà soạn nhạc Max Kalbeck xác định là mật mã âm nhạc của “Frei aber froh” (Tự do nhưng hạnh phúc), phản ánh cuộc sống cá nhân của Brahms. Ông không bao giờ kết hôn, dường như giữ cho riêng mình tình cảm sâu đậm dành cho Clara Schumann. Trong âm nhạc, đây là sự phản ứng lại tuyên ngôn của người bạn Joseph Joachim FAE “Frei aber einsam” (Tự do nhưng cô đơn). Cả hai mật mã này đều có thể tìm thấy trong Tứ tấu dây số 2 của Brahms cũng như F-A-E Sonata, một tác phẩm được hợp tác giữa Robert Schumann, Brahms và Albert Dietrich.

Tuy nhiên, ba nốt nhạc mở đầu bản giao hưởng lại là Pha-La giáng-Pha chứ không phải là FAF. La giáng là nốt nhạc thuộc về hợp âm Pha thứ trong khi giọng chủ đạo của chương nhạc là Pha trưởng. Vì vậy, âm nhạc đã mang đến một cảm giác bất hoà và thiếu ổn định. Thật vậy, sự xung đột giữa Pha trưởng và Pha thứ sẽ thúc đẩy toàn bộ bản giao hưởng và chỉ được giải quyết vào những khuông nhạc cuối cùng. Hợp âm thứ ba cũng giới thiệu chủ đề chính đầy năng lượng. Việc Brahms sáng tác bản giao hưởng tại Wiesbaden bên bờ sông Rhine hẳn là đã mang lại cho ông những ký ức về Schumann. Ý tưởng chính tạo thành nền tảng cho chủ đề này vốn là một đoạn trích dẫn từ câu nhạc trong chương I bản Giao hưởng số 3 “sông Rhine” của Schumann. Ngay sau đó, âm nhạc được mở rộng và dịu đi khi xuất hiện chủ đề thứ hai. Tuy nhiên, ngay trước khi nó xuất hiện, Brahms có gợi nhắc đến Richard Wagner, người mới qua đời vài tháng trước khi ông sáng tác bản giao hưởng. Phần hoà âm trước chủ đề thứ hai được biến tấu từ Siren’s Hymn (Tannhäuser) khi những người phụ nữ xinh đẹp hát lên: “Hãy đến gần bờ biển! Hãy đến với vùng đất, nơi, trong vòng tay của tình yêu rực rỡ, hãy để hơi ấm hạnh phúc thỏa mãn những ước muốn của bạn!”. Một hành động cho thấy mặc dù được coi là đối thủ của nhau nhưng Brahms rất ngưỡng mộ âm nhạc của Wagner. Clarinet tấu lên một giai điệu mộc mạc mang không khí đồng quê trên nền một dải âm trầm, mang tới cảm giác thư thái, mỗi ô nhịp là một biến tấu của ô nhịp trước đó. Giai điệu này gợi nhắc đến bài hát Die Loreley của Franz Liszt với lời thơ của Heinrich Heine, kể về tảng đá Lorelei (nằm ở hữu ngạn sông Rhine, rất gần nơi Brahms sáng tác bản giao hưởng này), là ngôi nhà của một thuỷ thần xinh đẹp, thường khiến những người dân đi ngang qua đó phải chết bằng giọng ca mê hoặc của mình.

Ý tưởng này sau đó được các nhạc cụ khác đảm nhận. Âm nhạc tối dần, chuyển sang giọng La thứ. Motif “Frei aber froh” được oboe đảm nhận. Nhịp điệu ngày càng trở nên không ổn định, đầy rẫy sự đảo phách và rồi đột ngột trở lại giọng Pha trưởng ban đầu, mọi thứ cuồng nhiệt trở lại. Biến tấu của chủ đề Lorelei xuất hiện, nồng nàn và mãnh liệt về cảm xúc. Âm nhạc dịu đi khi tiếng horn độc tấu cất lên phiên bản mở rộng, ấm áp của chủ đề “Frei aber froh”. Các mảnh ghép của chủ đề sông Rhine trở lại trong phần bè trầm của dàn nhạc dẫn đến sự lặp lại của chủ đề này cũng như chủ đề Lorelei, dẫn tới một đoạn coda hấp dẫn, kết thúc trong sự yên tĩnh.

Chương II bắt đầu với một giai điệu trữ tình khác trên clarinet, mang màu sắc một khúc dân ca, mộc mạc, điền viên. Clara đã bình luận về chương nhạc này: “Một khúc đồng quê đặc trưng; Tôi có thể thấy những tín đồ đang quỳ xung quanh ngôi đền nhỏ trong rừng, tôi nghe thấy tiếng suối chảy róc rách và tiếng vo ve của côn trùng”. Mỗi câu nhạc của clarinet được kết thúc bằng các hoạ tiết được lặp lại ở phần trầm của bè dây, gợi ý mạnh mẽ đến motif “Frei aber froh”. Giai điệu này kết thúc mở ra một đoạn chuyển tiếp nở rộ mang đến chủ đề hai tương phản. Một giai điệu u sầu, lãng đãng của clarinet và bassoon dẫn đến một chuỗi các hợp âm bán cung kỳ lạ. Sự phát triển ngày càng căng thẳng, chủ đề đầu tiên trở lại theo cách bí ẩn đến nỗi khó có thể nói bắt đầu từ bao giờ. Chủ đề hai bị bỏ qua trong phần tái hiện và chỉ trở lại trong đoạn cuối ngay trước khi xuất hiện lại các hợp âm bán cung. Chương nhạc khép lại với tiếng clarinet kéo dài chủ đề chính đầu tiên, được chơi ngày một chậm lại trên nền các hợp âm bán cung.

Chương III chuyển từ phong cảnh đồng quê, tràn ngập ánh nắng sang không khí của một nocturne. Bè cello mở đầu chủ đề ở giọng Đô thứ, một trong những giai điệu nổi tiếng nhất của Brahms: điệu waltz chậm rãi, buồn vui lẫn lộn. Bè violin chiếm lĩnh, tấu lên một chủ đề tương phản, được kết thúc bằng flute, oboe và horn. Học giả Malcolm MacDonald cho biết phần trang trí của giai điệu mang phong cách Gypsy quen thuộc của Brahms với bè dây tinh tế gợi nhắc đến cimbalom, nhạc cụ quen thuộc của những người dân này. Chương nhạc có hình dáng ba đoạn với phần trung tâm tương phản ở giọng La giáng trưởng, trôi qua trong tiếng kèn gỗ, được trả lời bằng những câu nhạc dịu dàng của bè dây. Giai điệu tuyệt vời ở phần đầu quay trở lại trên horn, sau đó là oboe và kết thúc bằng violin. Chương nhạc được Clara miêu tả: “Một viên ngọc trai, nhưng là một viên ngọc trai màu xám nhúng trong giọt nước mắt đau khổ”.

Chương IV bắt đầu bằng một giai điệu u ám, không hài hoà. Khi phát triển, nó có giọng Pha thứ, hàm ý nhắc đến motif “Frei aber froh”. Giai điệu này được tăng cường bằng phần đệm giàu sức gợi cảm và bè dây gợi nhớ đến cimbalom. Chủ đề này bị gián đoạn bằng sự trở lại đáng ngạc nhiên của chủ đề u sầu từ chương II với một không khí bí ẩn, kỳ lạ hơn. Nhưng những tia chớp âm nhạc của chủ đề đầu tiên đã xuất hiện, khuấy động bầu không khí khiến mọi thứ trở nên náo nhiệt. Chủ đề thứ hai của chương IV tương phản, hào hùng trên cello và horn nhưng nhanh chóng tối đi với những khoảng dừng đau đớn, được cuốn đi bằng một chủ đề mới. Khi thứ âm nhạc bão táp này tan biến, chủ đề đầu tiên rón rén trở lại. Âm nhạc trở nên ngày càng dịu dàng hơn cho đến khi bùng nổ đón chào sự trở lại của giai điệu bí ẩn từ chương II, trở thành cao trào của chương IV. Giai điệu đầu chương nhạc xuất hiện một lần nữa, thư thái và chậm rãi cho đến khi chuyển sang giọng Pha trưởng. Motif “Frei aber froh” được nhắc lại dẫn đến sự hiện thân cuối cùng của giai điệu bí ẩn trong một hình thức rộng rãi, quý phái hơn để giải quyết những xung đột về giọng điệu của bản giao hưởng. Giai điệu đầu chương nhạc được phân mảnh, kết hợp với motif “Frei aber froh” mang tới bất ngờ cuối cùng: sự trở lại lung linh của giai điệu sông Rhine. Âm nhạc tắt dần, kết thúc trong lặng lẽ. Điều này khiến cho những người cùng thời với Brahms thảng thốt, không biết đã bao năm trôi qua cho đến lúc một nhà soạn nhạc kết thúc bản giao hưởng của mình theo cách này?

Clara đã thốt lên: “Tất cả các chương nhạc dường như là một, một nhịp đập của trái tim, mỗi mảnh đều là một viên ngọc quý. Từ đầu đến cuối, nó được bao bọc bằng sự bí ẩn của rừng cây. Tôi không thể nói cho anh biết chương nhạc nào tôi thích nhất”. Bản giao hưởng như một vòng lặp có tính tuần hoàn mà ở đó, các giai điệu trong chương trước được nhắc lại ở chương sau, mang đặc trưng của âm nhạc chương trình hơn là âm nhạc tuyệt đối. Luôn tỏ ra chán ghét thứ âm nhạc chương trình và tôn thờ âm nhạc tuyệt đối nhưng dường như Brahms làm như vậy để che giấu đi những suy nghĩ sâu kín nhất của mình. Bản Giao hưởng số 3 này là một kiệt tác, mời gọi chúng ta khám phá ý nghĩa thực sự bên trong nó. Cái kết yên bình của tác phẩm mang đến cho người nghe sự thanh tẩy của những cảm xúc mãnh liệt và là một giải pháp tuyệt vời cho việc tìm kiếm sự tĩnh lặng trong nội tâm.

 

Chia sẻ:
facebook share
instagram share instagram share

Xem nhiều