Mussorgsky: Boris Godunov

07:00 AM, Thứ năm, 23/07/2026
8

Tác giả: Cobeo

 

 

Thông tin chung

Opera: Boris Godunov
Tác giảModest Mussorgsky.
Kịch bản: Modest Mussorgsky, dựa theo vở kịch cùng tên của Alexander Pushkin.
Thời gian sáng tác: Phiên bản đầu tiên được hoàn thành năm 1869. Phiên bản thứ hai được hoàn thành vào năm 1872. Nikolai Rimsky-Korsakov và Dmitri Shostakovich cũng có những phiên bản sửa chữa của riêng mình về tác phẩm này.
Công diễn lần đầu: Ngày 8/2/1874 tại Mariinsky Theatre, Saint Petersburg dưới sự chỉ huy của Eduard Nápravník.
Độ dài: Khoảng 3 giờ 10 phút.
Nhân vật/Loại giọng:
Boris Godunov: Bass
Hoàng thân Shuisky: Tenor
Pimen, Thầy tu và là người ghi chép lịch sử: Bass
Grigory, một chàng trai trẻ: Tenor
Marina: Mezzo-soprano/Soprano
Rangoni, tu sĩ dòng Tên: Bass
Varlaam, Kẻ lang thang: Bass
Simpleton: Tenor
Nikitich, sĩ quan cảnh sát: Bass
Mitiukha: Bass
Shchelkalov, chủ tịch hội đồng Duma: Bass-baritone
Chủ quán rượu: Mezzo-soprano
Misail, kẻ lang thang: Tenor
Viên sĩ quan: Bass-baritone
Xenia, Con gái Boris Godunov: Soprano
Feodor, con trai Boris Godunov: Mezzo-soprano
Bảo mẫu của Xenia: Contralto
Khrushchov, một thành viên Duma: Tenor
Lavitsky, tu sĩ dòng Tên: Bass
Chernikovsky, tu sĩ dòng Tên: Bass
Boyar: Tenor
Thành phần dàn nhạc:
Phiên bản của Mussorgsky: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 2 oboe (oboe 2 kiêm English horn), 3 clarinet (giọng Si giáng và La), 2 bassoon, 4 horn (giọng Pha), 2 trumpet (giọng Si giáng), 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, snare drum, tambourine, cymbals, piano, harp và dàn dây. Ngoài sân khấu có thêm trumpet, bells và tam-tam.
Phiên bản của Rimsky-Korsakov: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 2 oboe (oboe 2 kiêm English horn), 3 clarinet (clarinet 3 kiêm bass clarinet, giọng La và Si giáng), 2 bassoon, 4 horn (giọng Pha và Si giáng), 3 trumpet (giọng Pha), 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, snare drum, tambourine, cymbals, piano, harp và dàn dây. Ngoài sân khấu có thêm trumpet, bells và tam-tam.
Phiên bản của Shostakovich: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 2 oboe, English horn, 3 clarinet (clarinet 3 kiêm clarinet giọng Mi giáng), bass clarinet, 3 bassoon (bassoon 3 kiêm contrabassoon), 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, snare drum, tambourine, cymbals, tam-tam, triangle, bells, glockenspiel, xylophone, piano, celesta, harp và dàn dây. Ngoài sân khấu có thêm 4 trumpet, 2 cornet, 2 horn, 2 baritone horn, 2 euphonium, 2 tubas, balalaika và domra (có thể có hoặc không).

Hoàn cảnh sáng tác

Trong lịch sử opera, có lẽ chỉ có duy nhất Don Carlo của Giuseppe Verdi mới sánh bằng Boris Godunov về sự phức tạp của các phiên bản. Bất chấp việc khắp nơi trên thế giới và ngay tại chính nước Nga thường biểu diễn phiên bản của Nikolai Rimsky-Korsakov nhưng phiên bản gốc của Mussorgsky là một vở opera hoàn chỉnh, không như nhiều tác phẩm khác của ông. Với Boris Godunov, ảnh hưởng của Mussorgsky lên opera thế kỷ 20 sâu rộng hơn chúng ta tưởng. Claude Debussy đã dành cho Mussorgsky những lời ngưỡng mộ: “Mussorgsky tuyệt vời ở sự độc lập, chân thành và quyến rũ. Ông ấy là một vị thần âm nhạc… Người Nga sẽ truyền cho chúng ta những động lực mới để giải tỏa sự cứng nhắc đến nực cười. Họ sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về bản thân mình”. Còn bản thân Mussorgsky thì nói về thiên chức sáng tác của mình: “chỉ trình bày vẻ đẹp hình thể, theo nghĩa vật chất là sự non nớt thô thiển, nghệ thuật trong thời kỳ sơ khai. Đi sâu vào những chi tiết nhỏ nhặt nhất của bản chất con người và đám đông, chinh phục chúng, đó mới là thiên chức đích thực của người nghệ sĩ”.

Vào cuối năm 1868, Mussorgsky đã bắt đầu nhưng bỏ dở hai dự án opera của mình: vở opera lãng mạn, bi kịch Salammbô dưới sự ảnh hưởng từ tác phẩm Judith của Aleksandr Serov và Marriage hiện thực hơn, dưới tác động của The Stone Guest của Aleksandr Dargomïzhsky. Dự án tiếp theo của Mussorgsky sẽ là sự tổng hợp rất nguyên bản và thành công giữa phong cách đối lập của hai thử nghiệm này. Vào mùa thu năm 1868, Vladimir Nikolsky, một giáo sư về lịch sử và ngôn ngữ Nga và là chuyên gia về Alexander Pushkin đã khuyến khích Mussogrsky sáng tác một vở opera về chủ đề Boris Godunov. Vở kịch lịch sử này của Pushkin được sáng tác vào năm 1825 và xuất bản vào năm 1831, không nhằm mục đích biểu diễn trên sân khấu mà chỉ để độc giả thưởng thức. Mussogrsky đứng trước một thử thách khó khăn vì có một sắc lệnh của Sa hoàng Nga vào năm 1837 cấm đưa các Sa hoàng Nga trở thành nội dung trong các vở opera. Dựa trên tuyển tập kịch Pushkin được Lyudmila Shestakova, em gái của Mikhail Glinka tặng, từ tháng 10/1868, Mussorgsky bắt đầu sáng tác kịch bản cho vở opera của mình. Giống như Richard Wagner hay Ruggero Leoncavallo, Mussorgsky thường tự mình viết kịch bản mà không cộng tác với những người khác.

Bất chấp việc vẫn đang là công chức, Mussorgsky hoàn thành Boris Godunov khá nhanh chóng. Chín tháng để xong phần kịch bản (18/7/1869) và năm tháng tiếp theo cho phần nhạc (15/12/1869). Đầu năm 1870, ông nộp tác phẩm cho cơ quan kiểm duyệt và tác phẩm đã bị từ chối, nguyên nhân chủ yếu đến từ việc không có một vai nữ chính. Câu trả lời đến từ nhạc trưởng Eduard Nápravník và giám đốc sân khấu Gennadiy Kondratyev của nhà hát Mariinsky, được Shestakova ghi lại trong hồi ký của mình về nhóm Hùng mạnh (mà Mussorgsky là một thành viên). Trong cuốn Biên niên sử cuộc đời âm nhạc của tôi, Rimsky-Korsakov còn cho biết thêm, tính mới mẻ và độc đáo của âm nhạc cũng là một nguyên nhân khiến Boris Godunov không được thông qua.

Năm 1871, Mussorgsky bắt đầu sửa đổi tác phẩm, ông bổ sung giọng nữ, đưa lên thành nữ chính đồng thời nâng vai trò của những giọng nữ phụ có trước đó. Ông bổ sung ba cảnh, cắt đi một cảnh và sửa đổi một cảnh. Phiên bản sửa đổi được hoàn thành vào năm 1872 (ngày 14/12/1871 là phiên bản dành cho giọng hát và ngày 23/6/1872 là tổng phổ đầy đủ) và Mussorgsky đã gửi cho nhà hát Mariinsky. Trong khi chờ đợi toàn bộ vở opera được thông qua, Kondratyev đã chấp nhận cho dàn dựng trước ba cảnh của tác phẩm tại Mariinsky vào ngày 5/2/1873. César Cui, một thành viên khác của nhóm Hùng mạnh, đã ghi lại kết quả của đêm diễn: “Thành công to lớn và trọn vẹn; trong trí nhớ của tôi chưa bao giờ có những lời ca ngợi như vậy đối với một nhà soạn nhạc tại Mariinsky”. Cuối cùng, đến ngày 22/10/1873, Boris Godunov đã được chấp nhận dàn dựng với buổi biểu diễn đầu tiên được ấn định vào ngày 8/2/1874. Đêm ra mắt là một thành công vang dội. Mariinsky bán hết sạch vé, Mussorgsky được gọi ra chào tới 20 lần và các trích đoạn quen thuộc được hát trên đường phố. Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là một phiên bản đầy đủ của Boris Godunov. Nhạc trưởng Nápravník đã cắt đi một số đoạn, không phải vì lý do kiểm duyệt mà bản thân ông muốn tránh một đêm biểu diễn dài với nhiều đoạn mà ông cảm thấy không hiệu quả. Sau một khoảng thời gian dài chờ đợi tác phẩm được công diễn, Mussorgsky thậm chí đã ủng hộ và bảo vệ cách làm của Nápravník. Bất chấp việc buổi ra mắt Boris Godunov đã gây được tiếng vang lớn, nó chỉ được biểu diễn thêm 21 lần tại Mariinsky trong suốt cuộc đời của Mussorgsky (ông qua đời vào ngày 28/3/1881) và thêm năm lần nữa sau đó và ngừng hoàn toàn sau ngày 8/1/1882. Phải đến ngày 9/1/1904, Boris Godunov mới trở lại sân khấu Mariinsky, nhưng là trong phiên bản sửa đổi của Rimsky-Korsakov với huyền thoại Feodor Chaliapin trong vai chính.

Tóm tắt nội dung (lấy theo phiên bản năm 1872)

Thời gian: Từ năm 1598-1605.
Địa điểm: Moscow, biên giới với Lithuania, lâu đài Sandomierz (Ba Lan) và Kromy, Nga.

Lời mở đầu

Cảnh 1: Sân của Tu viện Novodevichiy gần Moscow (1598).

Một đám đông tập trung trong sân của tu viện, nơi quan nhiếp chính Boris Godunov đang tạm thời nghỉ ngơi. Sĩ quan cảnh sát Nikitich yêu cầu mọi người quỳ xuống để van xin Boris Godunov lên ngôi hoàng đế. Những người dân sau đó đã quay sang cãi vã nhau và chỉ tiếp tục van xin khi Nikitich đe doạ họ bằng chiếc dùi cui của mình. Shchelkalov, chủ tịch hội đồng Duma (lập pháp) xuất hiện từ bên trong tu viện, cho biết Boris Godunov vẫn từ chối và đề nghị họ tiếp tục cầu nguyện cho ông ta. Một đoàn người hành hương tiến đến trong một bản thánh ca, khuyến khích người dân loại bỏ tinh thần vô chính phủ đang ngự trị trên mảnh đất này, tôn thờ các biểu tượng linh thiêng và đi gặp Sa hoàng. Đoàn người biến mất trong tu viện.

Cảnh 2: Quảng trường Thánh đường bên trong điện Kremlin (1598).

Từ cổng vòm của nhà thờ Dormition, hoàng thân Shuisky hô hào người dân tôn vinh Sa hoàng. Khi mọi người cùng hát vang ca ngợi, một đoàn rước long trọng tiến ra khỏi nhà thờ. Mọi người quỳ xuống, Boris Godunov xuất hiện trên cổng vòm nhà thờ. Những tiếng thét “Vinh quang” lên đến cao trào và lắng xuống. Boris mang tới một đoạn độc thoại ngắn, tạo nên một cảm giác đáng lo ngại. Ông cầu nguyện để được Chúa ban phước và hy vọng trở thành một người cai trị tốt và công bình. Ông mời mọi người đến dự một bữa tiệc lớn, và sau đó tiến đến nhà thờ Archangel để quỳ gối trước lăng mộ của những vị vua tiền nhiệm. Mọi người chúc tụng Boris Godunov. Một đám đông lao đến nhà thờ và những viên cảnh sát phải rất vất vả để thiết lập trật tự. Những tiếng thét “Vinh quang” tiếp tục được vang lên.

Màn I

Cảnh 1: Ban đêm. Một căn phòng trong tu viện Chudov, bên trong điện Kremlin (1603).

Pimen, một thầy tu đáng kính đang viết một cuốn biên niên sử về nước Nga. Chàng trai trẻ tập sự Grigory tỉnh dậy sau một giấc mơ kinh hoàng (và có tính tiên tri). Trong đó anh ta liên tưởng tới Pimen, leo lên một ngọn tháp cao, bị người dân Moscow chế giễu và rơi xuống. Pimen khuyên anh ta nên ăn chay và cầu nguyện. Grigory hối hận vì giã từ cuộc sống trần tục quá sớm để trở thành thầy tu. Anh ghen tị với cuộc sống phiêu lưu trước đây của Pimen. Pimen nói một cách đồng tình về Ivan bạo chúa và con trai của ông ta là Feodor, bộc lộ sự sùng kính với cả hai, tương phản với Boris Godunov, một kẻ giết vua. Khi Grigory nghe được Pimen nói rằng anh ta có cùng độ tuổi với Dimitry, đứa con trai khác của Ivan bạo chúa, người đã bị giết hại tại Uglich, anh ta nảy ra ý định đóng giả Dimitry. Khi Pimen đi cầu nguyện trong giờ Kinh Sáng, Grigory tuyên bố rằng Boris sẽ không thoát khỏi sự phán xét của con người cũng như của Chúa.

Cảnh 2: Một quán trọ ở biên giới Lithuania (1603).

Những người lang thang Varlaam và Misail, ăn mặc như những thầy tu đang khất thực, đi cùng với người bạn đồng hành của mình là Grigory, trong trang phục trần tục. Họ đi vào quán rượu. Varlaam uống và hát về cuộc vây hãm Kazan của Ivan bạo chúa. Hai thầy tu nhanh chóng trở nên say xỉn. Grigory hỏi bà chủ quán rượu về con đường đến biên giới Lithuania. Bà chủ quán bảo anh đừng nên phí phạm thời gian vào những con đường lớn vì nơi đó đã bị cảnh sát bao vây để truy nã một người. Nhưng có một con đường nhỏ thay thế, ít người biết đến. Các viên cảnh sát xuất hiện, tìm kiếm một thầy tu đang chạy trốn, người đã rời khỏi tu viện Chudov và tuyên bố mình sẽ là Sa hoàng mới, đó chính là Grigory. Nhìn thấy những hành vi đáng nghi ngờ của Varlaam, viên cảnh sát trưởng nghĩ rằng anh ta đã tìm thấy đối tượng được truy nã. Tuy nhiên, vì không biết chữ nên anh ta đã nhờ Grigory đọc sắc lệnh mang theo. Grigory đã đọc nhưng thay thế các đặc điểm nhận dạng mình thành của Varlaam. Cảnh sát bắt giữ anh ta trong sự chống đối quyết liệt. Varlaam yêu cầu được tự mình đọc sắc lệnh, và mọi thứ trùng khớp với Grigory. Grigory vội nhảy ra khỏi cửa sổ, mọi người nhanh chóng đuổi theo.

Màn II

Cung điện Terem của Sa hoàng, nằm bên trong điện Kremlin (1603).

Xenia ôm bức chân dung của hoàng tử Johan xứ Schleswig-Holstein, người được hứa hôn với cô những đã chết còn Feodor đang nghiên cứu bản đồ nước Nga. Feodor đã cố gắng an ủi Xenia và cho cô xem sự kì diệu của một chiếc đồng hồ. Bảo mẫu của Xenia cũng động viên cô và đảm bảo rằng Xenia sẽ sớm quên hoàng tử. Boris Godunov bước vào, khuyên nhủ con gái mình và bảo Xenia và bảo mẫu về phòng. Chỉ còn lại hai cha con, Boris Godunov khuyến khích Feodor tiếp tục việc học hành. Boris Godunov cho Feodor biết rằng mình bị hình ảnh của một đứa trẻ đẫm máu đang cầu xin lòng thương xót ám ảnh, đó chính là hoàng tử Dimitry. Một vụ ẩm ĩ xảy ra bên ngoài, ông bảo Feodor đi xem xét. Feodor trở lại cho biết câu chuyện liên quan đến một con vẹt. Boris Godunov khuyên con trai mình sau này khi trở thành Sa hoàng, hãy cẩn thận với những kẻ xảo quyệt như Shuisky. Shuisky đến và bị Boris Godunov mắng chửi. Tuy nhiên, Shuisky mang đến một tin đồn nghiêm trọng rằng có người tự xưng là hoàng tử Dimitry đang xuất hiện ở biên giới Lithuania. Rung động trước tin này, Boris Godunov đã đuổi Feodor đi. Ông ra lệnh cho Shuisky phong toả biên giới Lithuania và trong cơn giận dữ, hỏi Shuisky rằng liệu anh ta đã bao giờ nghe nói đến việc một đứa trẻ đội mồ sống dậy để truy vấn Sa hoàng hay chưa. Boris Godunov yêu cầu tìm kiếm bằng chứng đích thực để chứng minh kẻ kia chính là Dimitry. Ông ta đe doạ Shuisky nếu tiết lộ chuyện này sẽ phải bị hành quyết một cách dã man. Shuisky miêu tả lại vụ giết chết Dimitry nhưng đưa ra những ẩn ý về một phép màu. Boris Godunov bắt đầu hối hận, yêu cầu Shuisky rời đi.

Màn III

Cảnh 1: Khuê phòng của Marina ở Sandomierz, thị trấn phía đông nam của Ba Lan (1604).

Những người hầu gái hát một bài hát nhẹ nhàng, tình cảm để giải trí cho Marina trong lúc cô đang trang điểm. Marina tuyên bố cô thích những bài hát hào hùng hơn. Cô yêu cầu mọi người rời đi. Marina hát về sự chán nản của mình, về Dmitry, và về khát vọng phiêu lưu, quyền lực và vinh quang. Thầy tu dòng Tên Rangoni bước vào, than phiền về tình trạng tồi tệ của nhà thờ, thúc giục Marina về việc nếu cô trở thành hoàng hậu của Sa hoàng, cô sẽ nỗ lực trong việc cải đạo những người dị giáo (đạo Chính thống) sang đức tin chân chính (Công giáo La Mã) và khuyến khích cô yêu Dimitry. Khi Marina tự hỏi tại sao cô ấy phải làm điều này, Rangoni giận dữ nhấn mạnh rằng cô không thể từ chối bất cứ điều gì, kể cả hy sinh danh dự của mình, để tuân theo lệnh của nhà thờ. Marina tỏ ra khinh thường những lời bóng gió đạo đức giả của Rangoni và yêu cầu ông ta rời đi. Khi Rangoni nói với Marina một cách đáng ngại rằng cô ấy đang ở trong vòng vây của các thế lực địa ngục, Marina gục ngã trong sợ hãi. Rangoni yêu cầu cô phải tuân lệnh.

Cảnh 2: Lâu đài của cha Marina ở Sandomierz. Một khu vườn. Đài phun nước. Đêm trăng (1604).

Grigory (vẫn đang đóng giả là Dimitry), mơ về cuộc gặp gỡ với Marina trong lâu đài của cô. Anh bị Rangoni bắt gặp, mang đến tin tức rằng Marina mong muốn được gặp gỡ và nói chuyện với anh. Anh đề nghị dẫn mình tới gặp Marina để cầu hôn cô. Rangoni thuyết phục Grigory tạm thời ẩn nấp khi các quý tộc Ba Lan rời khỏi lâu đài, tiến đến khu vườn và bắt đầu nhảy một điệu polonaise. Marina khiêu vũ với một vị khách lớn tuổi. Người Ba Lan hát về việc sẽ chiến thắng quân đội Nga và bắt giữ Boris Godunov. Những vị khách quay trở lại lâu đài. Grigory rời khỏi nơi ẩn nấp và nguyền rủa Rangoni vì không tạo cơ hội cho anh gặp Marina. Anh quyết định từ bỏ cô và quay trở lại Moscow. Bất ngờ Marina xuất hiện. Anh bày tỏ sự say mê cô. Tuy nhiên Marina chỉ chấp nhận cưới anh nếu Grigory trở thành Sa hoàng và tuyên bố rằng chỉ có ngai vàng và vương miện mới có thể quyến rũ cô. Bất chấp việc anh quỳ xuống chân cô, cô khinh thường anh. Grigory cho biết ngay ngày hôm sau, anh sẽ dẫn quân đội của mình tiến về Moscow và giành lại ngai vàng. Với tư cách Sa hoàng, anh sẽ rất vui nếu như quay trở lại trong chiến thắng và mọi người sẽ cười nhạo cô. Marina đột ngột thay đổi thái độ, nói rằng cô yêu anh. Rangoni tham gia, vui mừng trong hoài nghi về thành công của mình.

Màn IV

Cảnh 1: Cung điện Facets bên trong điện Kremlin (1605).

Một phiên họp của Duma đang diễn ra. Sau một cuộc tranh luận, các thành viên Duma đồng ý về việc Dimitry và những người đi theo anh ta phải bị xử tử. Shuisky, người bị các thành viên Duma ghét bỏ, đến với một câu chuyện thú vị. Ông ta cho biết trước khi đến đây, Boris Godunov đang cố gắng xua đuổi bóng ma của Dimitry đã chết. Các thành viên Duma tuyên bố Shuisky nói dối. Đúng lúc này, Boris Godunov, trông rất nhếch nhác, bước vào, hành động đúng như những gì Shuisky đã nói. Mọi người hoảng sợ. Sau khi Boris Godunov tỉnh táo lại, Shuisky cho biết có một thầy tu muốn được gặp Sa hoàng. Pimen bước vào, kể một câu chuyện về chính vụ giết chết Dimitry trước đó. Đó là đòn đánh cuối cùng vào Boris Godunov. Ông hấp hối, cho gọi Feodor, đưa ra những lời khuyên cho con trai và cầu nguyện Chúa phù hộ cho những đứa con của mình. Boris Godunov qua đời.

Cảnh 2: Rìa khu rừng gần Kromy (1605).

Một đám đông bắt được một thành viên Duma, Khrushchov. Đám đông mỉa mai, chế nhạo anh ta. Nhà tiên tri Simpleton bước tới với một đám trẻ bao quanh. Varlaam và Misail từ xa tiến tới, hát về những tội ác của Boris Godunov và tay sai của hắn. Đám đông ngày càng trở nên điên cuồng khi nói về Boris Godunov. Hai tu sĩ dòng Tên đang cầu nguyện Chúa sẽ cứu giúp Dimitry. Varlaam và Misail kêu gọi mọi người treo cổ họ lên và họ cầu nguyện Đức Mẹ đồng trinh cứu giúp. Dimitry và đội quân của anh xuất hiện. Varlaam và Misail tôn vinh anh. Dimitry kêu gọi những người chống đối Boris Godunov ủng hộ mình. Anh giải thoát cho Khrushchov và tiến quân về Moscow. Tất cả đều hoan nghênh, ngoại trừ Simpleton, người hát một bài hát ai oán về kẻ thù và nỗi đau của nước Nga.

Sau khi Mussorgsky qua đời, Rimsky-Korsakov đã sắp xếp lại toàn bộ bản thảo của người bạn mình. Về Boris Godunov, ông cho biết: “Mặc dù tôi biết mình sẽ bị nguyền rủa vì làm như vậy, nhưng tôi sẽ sửa lại Boris. Có vô số điểm vô lý trong cách hoà thanh và đôi khi trong giai điệu của tác phẩm”. Một phiên bản sửa đổi ban đầu đã được hoàn thành vào năm 1896. Mùa xuân năm 1906, Rimsky-Korsakov tiếp tục can thiệp vào tác phẩm, lần này còn thô bạo hơn, không chỉ sửa đổi về hoà thanh và giai điệu mà thậm chí còn viết thêm một số đoạn và thay đổi thứ tự các cảnh. Công việc này đã bị chính những thành viên còn lại trong nhóm Hùng mạnh là Cui và Balakirev chỉ trích, cho rằng nó mất đi những chất liệu âm nhạc đặc trưng của Mussorgsky, làm biến dạng âm nhạc, bất chấp việc đồng tình rằng những thay đổi của Rimsky-Korsakov mang đến một màu sắc nhẹ nhàng và tự nhiên hơn cho vở opera. Bản thân Rimsky-Korsakov rất tin tưởng với những chỉnh sửa của mình: “Tôi vẫn vô cùng hài lòng với bản sửa đổi và phối khí của Boris Godunov, được tôi nghe lần đầu tiên với một dàn nhạc lớn. Những người hâm mộ bạo lực của Moussorgsky hơi cau mày, hối tiếc về điều gì đó… Nhưng sau khi sắp xếp bản chỉnh sửa mới của Boris Godunov, tôi không phá hủy hình thức ban đầu của nó, vĩnh viễn không vẽ lại các bức bích họa cũ. Nếu bao giờ kết luận được đưa ra là bản gốc tốt hơn, xứng đáng hơn bản sửa đổi của tôi, thì bản sửa đổi của tôi sẽ bị loại bỏ và Boris Godunov sẽ được biểu diễn theo tổng phổ gốc ban đầu”.

Năm 1940, Dmitri Shostakovich, theo uỷ thác của nhà hát Bolshoi đã chỉnh sửa lại Boris Godunov. Tuy nhiên phiên bản này không thể dàn dựng vì Thế chiến thứ hai. Nó chỉ được công diễn vào năm 1959. So với phiên bản chỉnh sửa của Rimsky-Korsakov, Shostakovich tôn trọng hoà thanh và giai điệu trong nguyên tác hơn. Cho đến ngày nay, phiên bản được hoàn thành năm 1908 của Rimsky-Korsakov cho đến nay vẫn là phiên bản được trình diễn nhiều nhất tại Nga, bất chấp việc phiên bản năm 1872 của Mussogrsky đã được những nhà hát phương Tây dàn dựng.

 

(Nguồn: https://nhaccodien.vn/)

Chia sẻ:
facebook share
instagram share instagram share

Xem nhiều