Tác giả: Cobeo (Tổng hợp)

“Điều quan trọng nhất là biến cây đàn piano từ một nhạc cụ bộ gõ thành một nhạc cụ ca hát… một giai điệu hát lên được tạo thành từ bóng tối, màu sắc và độ tương phản. Bí mật chủ yếu nằm ở sự tương phản.” – Vladimir Horowitz
“Là một bậc kỳ tài về kỹ thuật chơi piano, Horowitz là một trong những người chân thật nhất trong lịch sử nghệ thuật piano hiện đại. Ông đã đạt được những hiệu ứng rực rỡ của mình chỉ bằng các đầu ngón tay, hạn chế sử dụng bàn đạp. Các nốt của thang âm không thể đồng đều hơn…, hợp âm không thể tấn công mạnh mẽ hơn; quãng tám không thể sắc nét và thú vị hơn; các quãng nhảy vọt không thể chính xác hơn. Bất kể tác phẩm đó khó và phức tạp đến đâu, Horowitz sẽ làm cho nó trở nên dễ dàng. Và trên tất cả, đó là những nốt fortissimo tuyệt vời của ông – phần âm sắc của dàn nhạc mà chỉ Horowitz mới có thể tạo ra được”, đó là lời nhận xét của Harold C. Schonberg, nhà phê bình âm nhạc cho New York Times và là tác giả của cuốn sách “Những nghệ sĩ piano vĩ đại” dành cho Vladimir Horowitz, một trong những huyền thoại sáng chói nhất của nghệ thuật biểu diễn piano. Sở hữu một vóc người nhỏ bé nhưng ông được đặt biệt danh “Người khổng lồ của cây đàn piano” bởi ẩn sâu trong cơ thể đó là một nguồn sức mạnh vô song, một cá tính âm nhạc độc đáo, một nền tảng kỹ thuật hiếm người bì kịp. Ông đã tạo nên một vầng hào quang rực rỡ với vô vàn bản nhạc chạm đến trái tim người nghe, tạo ra những khoảnh khắc không thể tìm kiếm được ở bất kỳ nơi nào khác. Luôn khiến nhạc cụ của mình hát lên như thể nó sở hữu một hệ hô hấp hoàn hảo, Horowitz là nhà thơ của cây đàn piano. Không phải cách diễn giải nào của ông cũng đều được tán thưởng, cũng có nhiều nhà phê bình chỉ trích ông làm sai lệch ý tưởng của nhà soạn nhạc. Nhưng chắc chắn một điều rằng, không ai có thể thờ ơ với ông bởi ngay cả trong những ý tưởng “cá nhân hoá” đó cũng thể hiện một tư duy đặc biệt, không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai khác. Và đó là cách mà Horowitz đã chinh phục khán giả trong suốt cuộc đời nghệ thuật của mình.
Vladimir Horowitz sinh ngày 1/10/1903 tại Kiev, là con út trong tổng số bốn người con của ông Samuil và Sophia Bodik. Đó là một gia đình Do Thái trung lưu có một nền văn hoá cao. Ông Samuil là một kĩ sư điện còn bà Sophia là nghệ sĩ piano nghiệp dư. Chính Sophia là người thầy đầu tiên cho cậu con trai mình khi Vladimir lên 6 tuổi, trước đó, khi chỉ mới 3 tuổi, cậu đã bắt đầu học đọc các bản nhạc. Chỉ ba năm sau, Vladimir đã khiến cả gia đình phải sửng sốt khi cậu thuộc lòng tất cả các bản nhạc của Sergei Rachmaninov cũng như phiên bản piano những vở opera của Richard Wagner mà họ có trong thư viện. Chú Alexander của Vladimir là học trò và bạn thân của Alexander Scriabin, đã giới thiệu đứa cháu tài năng 10 tuổi của mình với nhà soạn nhạc. Sau khi lắng nghe cậu bé chơi đàn, Scriabin cho biết Vladimir sở hữu một tài năng thiên bẩm. Gia đình quyết định cho Vladimir theo học piano một cách chính quy tại nhạc viện Kiev. Tại đây, thầy giáo của cậu là Vladimir Puchalsky, Sergei Tarnowsky và Felix Blumenfeld, trong đó Blumenfeld là người mà Vladimir đặc biệt kính trọng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, piano không phải mối quan tâm hàng đầu của cậu, Vladimir thích thú với công việc sáng tác hơn. Để việc thực hiện nghĩa vụ quân sự không làm ảnh hưởng đến việc học tập của con trai mình, ông Samuil đã quyết định thay đổi ngày sịnh trong giấy khai sinh của Vladimir thành 1/10/1904. Và ngày sinh này đã gắn bó với Horowitz trong suốt cuộc đời ông.
Những năm tháng Vladimir học tại Nhạc viện Kiev trùng với bối cảnh đầy biến động của nước Nga thời bấy giờ. Cuộc cách mạng Bolshevik năm 1917 khiến gia đình cậu mất hầu hết các tài sản và Vladimir bắt đầu cuộc đời của một nghệ sĩ biểu diễn để kiếm sống cho gia đình. Cho đến khi tốt nghiệp vào năm 1920, Vladimir đã sở hữu khoảng 100 buổi hoà nhạc và bắt đầu được công nhận là một trong những nghệ sĩ piano hàng đầu nước Nga. Vẫn luôn nung nấu ý tưởng trở thành nhà soạn nhạc, Vladimir chỉ coi công việc biểu diễn piano là phương tiện để nuôi sống bản thân và gia đình. Anh gặp gỡ nghệ sĩ violin trẻ tài năng Nathan Milstein và họ nhanh chóng trở thành những người bạn thân thiết và thường xuyên biểu diễn cùng nhau. Với bối cảnh khó khăn lúc đó, thù lao của họ hiếm khi là tiền mà chủ yếu được trả công bằng bánh mì, bơ hay socola. Trong mùa diễn 1922-1923, Vladimir thực hiện 70 buổi hoà nhạc trên khắp nước Nga, trình diễn khoảng 200 tác phẩm khác nhau.
Năm 1925, Vladimir thuyết phục chính quyền Liên Xô cấp cho mình và Milstein thị thực sinh viên để đi học tập tại nước ngoài. Anh đã quyết chí ra đi mà không trở lại với tiền được giấu kĩ trong giầy và tất. Cùng với ông bầu Aleksandr Meerovich, Vladimir đã đến Berlin. Ngày 18/12/1925, chàng trai trẻ có buổi biểu diễn đầu tiên tại phương Tây với Concerto piano số 1 của Peter Ilyich Tchaikovsky dưới sự chỉ huy của Oskar Fried và Berlin Staatskapelle. Ngay trước đêm hoà nhạc, Vladimir đã quyết định đổi họ của mình thành Horowitz. Buổi biểu diễn độc tấu đầu tiên diễn ra sau đó vào ngày 20/1/1926 tại Beethovensaal, Berlin. Horowitz đã nhanh chóng hoà mình vào đời sống văn hoá tại phương Tây với nhiểu chương trình tại Pháp, Ý, Hà Lan, Anh hay Bỉ. Sau mùa diễn đầu tiên của Horowitz tại Paris vào năm 1926, Arthur Rubinstein đã đánh giá: “Cậu ấy đã khiến cả Paris phải run sợ”. Anh cũng kết bạn với nhiều nghệ sĩ piano khác như Edwin Fischer và Rudolf Serkin và hợp tác với những nhạc trưởng hàng đầu Bruno Walter hay Arturo Toscanini. Ngay cả giữa những tài năng như vậy, Horowitz vẫn nổi bật với một nguồn sức mạnh phi thường, cách thức diễn giải đầy đam mê khiến khác giả vô cùng kinh ngạc trong những tác phẩm của Frédéric Chopin hay Franz Liszt. Danh tiếng của Horowitz đã ngày một lan xa.
Ngày 12/1/1928, Horowitz có màn ra mắt khán giả Mĩ khi biểu diễn piano concerto số 1 của Tchaikovsky tại Carnegie Hall dưới sự chỉ huy của Thomas Beecham (đây cũng là xuất hiện đầu tiên của Beecham tại đây) và New York Philharmonic. Olin Downes, nhà phê bình của The New York Times cho biết việc đón tiếp Horowitz là “sự chào đón cuồng nhiệt nhất mà một nghệ sĩ dương cầm nhận được trong nhiều mùa diễn qua ở New York”. Trong số khán giả có Josef Lhévinne, Josef Hofmann, Benno Moiseiwitsch và Sergei Rachmaninov. Thật khó có thể gọi đó là một đêm diễn thành công khi tốc độ và cảm xúc giữa nghệ sĩ độc tấu và nhạc trưởng là trái ngược nhau. Nếu như Beecham lựa chọn một tốc độ vừa phải, nhấn mạnh vào sự trang nghiêm của tác phẩm thì Horowitz ưa thích sự mạnh mẽ và nhanh nhẹn hơn. Hậu quả là khi vào chương III, Horowitz chơi trước dàn nhạc tới mấy ô nhịp. Sau này Horowitz cho biết: “Tôi đã chơi nhanh hơn, to hơn và nhiều nốt nhạc hơn Tchaikovsky viết”. Bất chấp việc Beecham giận dữ trên bục chỉ huy, khán giả đã trào dâng sự phấn khích và dành tặng cho Horowitz vô số lời ngợi khen. Downes mặc dù chỉ trích sự bất hoà giữa nhạc trưởng và nghệ sĩ piano nhưng vẫn ghi nhận cá tính độc đáo của Horowitz trong việc kích thích khán giả, điều mà anh sẽ duy trì cho đến cuối cuộc đời: “Đã nhiều năm kể từ khi một nghệ sĩ piano tạo ra được sự cuồng nhiệt như vậy với khán giả ở thành phố này” cũng như nhấn mạnh vào những ưu điểm trong phong cách chơi đàn của anh: “Buổi biểu diễn là một cơn cuồng phong diễn giải điêu luyện, kỹ thuật đáng kinh ngạc, sự thanh xuân không thể cưỡng lại và khí chất mạnh mẽ”. Trong một buổi biểu diễn độc tấu của Horowitz, Downes đã dành tặng những lời có cánh: “Thể hiện hầu hết nếu như không muốn nói là tất cả các đặc điểm của diễn giải viên tuyệt vời”. Rachmaninov nhanh chóng trở thành người bạn thân thiết của Horowitz. Nhà soạn nhạc đánh giá rất cao màn trình diễn của nghệ sĩ piano trẻ tuổi trong Concerto piano số 3 của mình. Trong năm 1928, Horowitz cũng có được bản thu âm đầu tiên cho mình cùng RCA Victor.
Ngày 23/4/1933, Horowitz có buổi biểu diễn Concerto piano số 5 “Hoàng đế” của Ludwig van Beethoven cùng Toscanini và New York Philharmonic. Họ trở thành nhưng cộng sự thân thiết của nhau trong âm nhạc. Ngày 21/12/1933, Horowitz kết hôn với Wanda, con gái của Toscanini tại Milan. Họ có với nhau một cô con gái, Sonia. Lúc này, tên tuổi của Horowitz đã trở nên vô cùng nổi tiếng. Ông có tới gần 100 buổi hoà nhạc một năm. Chính sự căng thẳng trong lịch làm việc dày đặc này đã khiến Horowitz rất mệt mỏi. Ông hồi phục rất chậm sau ca mổ ruột thừa và đã quyết định tạm thời ngừng biểu diễn vào năm 1936. Trong hai năm sau đó, Horowitz sống tại Pháp và Thuỵ Sĩ, lánh xa ánh đèn sân khấu. Đã có nhiều lời đồn đại về tình trạng sức khoẻ của ông rằng Horowitz bị loạn thần kinh, không nói chuyện với ai, không chạm đến cây đàn piano và sự nghiệp đã kết thúc. Sau này, ông giải thích rằng mình chỉ bị căng thẳng cao độ và bất mãn với sự khắc nghiệt của việc di chuyển qua các địa điểm biểu diễn: “Đối với tôi chơi piano là điều dễ dàng nhất thế giới nhưng tất cả những gì xung quanh nó đã khiến tôi phát điên. Tôi có chơi piano mỗi ngày. Di chuyển là vấn đề lớn nhất đối với tôi. Tôi phải tự nấu ăn vì tôi không thể ăn đồ của khách sạn. Tôi không ăn thịt. Tôi không ốm. Đó chỉ là vấn đề của niềm tin”. Cùng với việc nấu nướng, Horowitz còn mang theo chiếc máy lọc nước, ông giải thích: “Mỗi nơi có một loại nước khác nhau và tôi không muốn có hoá chất lạ trong người”. Đó chỉ là lần đầu tiên Horowitz tạm ngừng biểu diễn trong một khoảng thời gian dài, ông còn làm như vậy 3 lần nữa trong suốt cuộc đời mình. Trong khoảng thời gian này, Horowitz bắt đầu công việc giảng dạy với Nico Kaufmann là người đầu tiên trong tổng số 9 sinh viên may mắn được học tập với ông.
Horowitz trở lại biểu diễn bằng một chương trình tại Zürich vào năm 1938 và sau đó là Paris. Ngày 31/1/1940, ông trở lại Mĩ bằng một chương trình độc tấu tại Carnegie Hall. Horowitz được đón chào nhiệt liệt và sau đêm diễn, khán giả và các nhà phê bình nhận ra rằng ông còn tuyệt vời hơn trước khi ẩn dật. Với lần trở lại này, Horowitz quan tâm nhiều hơn đến âm nhạc đương đại, ví dụ như các sáng tác của Sergei Prokofiev hay Samuel Barber. Thế chiến thứ hai nổ ra, châu Âu trở nên bất ổn, ông hoạt động âm nhạc chủ yếu ở Mĩ và trở thành nghệ sĩ được trả lương cao nhất thế giới. Năm 1944, Horowitz nhập quốc tịch Mĩ. Năm 1945, ông chuyển soạn tác phẩm Stars and Stripes Forever của John Philip Sousa cho piano độc tấu nhân dịp một cuộc biểu tình hoà bình ở Công viên trung tâm, New York. Sau khi chiến tranh kết thúc, Horowitz tiếp tục sự nghiệp một cách đầy tích cực, thu âm và tổ chức các buổi hoà nhạc tại nhiều nơi trên thế giới. Ngày 12/1/1953, ông kỷ niệm 25 năm hoạt động nghệ thuật của mình tại Mĩ bằng một chương trình tại Carnegie Hall với George Szell chỉ huy New York Philharmonic và vẫn là trong tác phẩm ra mắt Concerto piano số 1 của Tchaikovsky. Tuy nhiên, ngay sau đó, ông lại rút lui khỏi các buổi biểu diễn trước công chúng với lí do sức khoẻ suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chứng đau dạ dày. Lần vắng bóng này của ông lâu hơn nhiều, tới tận 12 năm. Trong khoảng thời gian đó, Horowitz vẫn thực hiện một số bản ghi âm và dạy học. Ông giải thích về sự vắng mặt của mình: “Các bác sĩ nói rằng tôi đã làm việc quá sức – rằng tôi cần nghỉ ngơi. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ nghỉ phép một năm. Thật tuyệt vời. Khi nó kết thúc, tôi nghĩ tôi sẽ nghỉ thêm một năm nữa. Tôi gặp bạn bè, chơi bài, bàn luận triết học, đọc sách và nghe đủ loại nhạc”. Chính sự ẩn dật này một lần nữa lại tạo thêm cho Horowitz sự huyền bí, càng khơi gợi trí tò mò của công chúng cũng như háo hức đón chờ ông trở lại. Trong khoảng thời gian này, ngày 16/1/1957, Toscanini qua đời. Ngay sau đó, con gái ông Sonia bị thương nặng trong một vụ tai nạn xe máy. Đầu thập niên 60, ông kết thúc hợp đồng với RCA Victor và chuyển sang Columbia. Năm 1962, đĩa nhạc đầu tiên với hãng thu âm mới trong các tác phẩm của Chopin, Liszt, Rachmaninov và Robert Schumann đã giành được những thành công đáng kể.
Năm 1964, Horowitz bắt đầu cân nhắc việc trở lại sân khấu bằng việc thực hiện một số chương trình biểu diễn với khán giả là một nhóm bạn nhỏ. Cuối cùng, ngày chính thức được ấn định là 9/5/1965 tại Carnegie Hall. Vé được bán từ 10 giờ sáng ngày 26/4. Ngay từ sáng hôm trước, mọi người đã bắt đầu xếp hàng để mua vé. Đến 7h30 sáng ngày 26/4, số lượng đã lên đến khoảng 1.500 người. Đêm trước đó trời ẩm thấp và lạnh giá, cảm động trước thịnh tình của khán giả, Horowitz đã gửi những tách cà phê cho những người hâm mộ đang chờ đợi. 5.000 vé đã hết sạch trong vòng 3 giờ đồng hồ. Khi ông bước ra sân khấu, cả khán phòng dậy sóng, đứng dậy, vỗ tay, dậm chân để đón chào người nghệ sĩ. Horowitz đã phải biểu diễn thêm tới 4 tác phẩm và mọi người vẫn liên tục vỗ tay ngay cả khi đèn trong phòng hoà nhạc đã mờ dần. Bản thân Horowitz cũng ngỡ ngàng vì thành công của lần trở lại này. Ông trở lại với guồng máy biểu diễn, thu âm, xuất hiện trên truyền hình nhưng với một tần suất ít hơn trước, chương trình cũng được chắt lọc hơn. Và rồi một lần nữa, năm 1969, ông lại lui vào bóng tối, lần này kéo dài trong 5 năm. Chứng trầm cảm tăng lên, biên độ cảm xúc của ông dãn cách một cách bất thường, từ phấn khích tột độ cho đến tuyệt vọng sâu sắc đã ảnh hưởng một cách tồi tệ đến cuộc sống và sự nghiệp của ông.
Một liệu pháp sốc đã được thực hiện vào cuối năm 1973 dường như đã hồi sinh Horowitz. Ông trở lại với sân khấu vào năm 1974, trong đó có chuyến lưu diễn tại Mĩ. Ngày 17/11/1974, lần đầu tiên Horowitz xuất hiện tại Metropolitan Opera mới ở Trung tâm Lincoln. Ngày 18/5/1976, Horowitz có lần hiếm hoi đóng vai trò một nghệ sĩ đệm đàn khi ông biểu diễn cùng Dietrich Fischer-Dieskau trong Dichterliebe (Schumann). Cùng với đó là chương I Trio piano của Tchaikovsky (cùng Isaac Stern và Mstislav Rostropovich) và chương III Sonata cello của Rachmaninov (Rostropovich) trong đêm nhạc đặc biệt kỉ niệm 85 năm khánh thành phòng hoà nhạc Carnegie Hall. Ngày 8/1/1978, ông kỷ niệm 50 năm sự nghiệp của mình tại Mĩ với Concerto piano số 3 của Rachmaninov cùng Eugene Ormandy và New York Philharmonic, đánh dấu lần đầu tiên biểu diễn cùng dàn nhạc kể từ đầu những năm 1950. Ông quay trở lại thu âm cùng RCA Victor. Horowitz hoạt động sôi nổi trở lại nhưng chứng trầm cảm chưa buông tha ông, các buổi biểu diễn tại Tokyo vào năm 1983 với chất lượng nghệ thuật giảm sút cho thấy điều đó. Horowitz đã bị chỉ trích gay gắt. Ngay sau đó, ông tiếp tục nghỉ diễn, lần này trong hai năm ngắn ngủi.
Horowitz trở lại vào năm 1985 với các chương trình tại London và Paris. Ông được trọng vọng theo những cách mà không nghệ sĩ nào có được. Ông biểu diễn với cây đàn piano mang theo từ Manhattan, luôn biểu diễn vào 4h chiều ngày Chủ nhật. Ngày 20/4/1986, một trong những buổi biểu diễn đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Horowitz đã diễn ra tại phòng hoà nhạc nhạc viện Tchaikovsky, Moscow, đánh dấu sự trở về quê nhà của ông sau 61 năm. Horowitz hồi tưởng lại: “Tôi rất hào hứng. Đó là đất nước của tôi. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ (máy bay) và nói đó là nước Nga. Đây là nơi tôi được sinh ra. Đây là nơi tôi lớn lên. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ có cảm xúc này, hoài niệm này, ký ức về những điều đã qua. Tất cả những người Nga có học thức đều phải có những thứ trong máu của họ mà không bao giờ mất đi. Chúng tôi lớn lên đọc Pushkin, Dostoyevsky, Tolstoy, Chekhov. Tất cả chúng tôi, không chỉ là các nhạc sĩ, đều âm nhạc của Glinka, Mussorgsky, Rimsky-Korsakov và Borodin trong tai mình. Đó là những gì tôi được trở lại và nó mang lại những kỷ niệm. Cả niềm kiêu hãnh của đất mẹ Nga”. Ông cũng ghé thăm nhà của Scriabin, gợi nhớ lại những kỉ niệm xưa cũ. Ngày 27/4/1986, Horowitz có buổi biểu diễn tiếp theo tại Liên Xô, lần này ở Leningrad. Sau đó ông tới Đức Áo, Hà Lan… trở lại những địa điểm mà ông đã từng gắn bó trước kia. Sau chuyến đi này, ông hạn chế biểu diễn trước công chúng và thực hiện một số bản thu âm, lần này là với hãng Deutsche Grammophon trong đó đáng chú ý có Concerto piano số 23 của Wolfgang Amadeus Mozart cùng Carlo Maria Giulini và Orchestra del teatro alla Scala. Khi đã ở tuổi ngoài 80, tiếng đàn của ông vẫn tràn đầy những màu sắc rực rỡ và sự tinh tế phi thường.
Horowitz là một hiện tượng đặc biệt trong số các nghệ sĩ piano, như Andre Watts nhận xét: “Ông như một con quỷ không thể kiểm soát được trên sân khấu”. Những diễn giải của ông không phải lúc nào cũng thuyết phục được mọi người nhưng vẫn tạo được những sự phấn khích theo đúng cách mà nhà phê bình Virgil Thomson đánh giá: “Ông là bậc thầy về bóp méo và phóng đại” hay gay gắt hơn như Michael Steinberg viết trong Từ điển âm nhạc New Grove: “Horowitz minh họa rằng một tài năng biểu diễn nhạc cụ đáng kinh ngạc không đảm bảo cho sự hiểu biết về âm nhạc”. Trước những lời khen ngợi kèm phê phán đó, Horowitz tỏ ra không quá lo lắng: “Khi tôi ngồi bên phím đàn, tôi không bao giờ biết mình sẽ chơi một tác phẩm bất kỳ như thế nào. Tôi chơi theo cách mà tôi cảm thấy vào ngay thời điểm đó. Cái đầu, trí tuệ, chỉ là yếu tố chi phối việc sáng tác âm nhạc. Nó không phải là một hướng dẫn. Hướng dẫn là cảm xúc của bạn. Chopin không bao giờ chơi các bản nhạc của mình theo cùng một cách hai lần”. Horowitz tự nhận xét về bản thân: “Tôi là một người Lãng mạn thế kỷ 19. Tôi là người cuối cùng. Tôi chấp nhận những rủi ro khủng khiếp. Bởi vì tôi chơi rất rõ ràng nên khi tôi mắc lỗi, bạn sẽ nghe thấy. Nhưng tổng phổ không phải là một cuốn Kinh thánh và tôi không bao giờ e ngại những thách thức. Âm nhạc ở đằng sau những nốt nhạc đó. Bạn tìm kiếm nó và đó là thứ mà tôi muốn nói về phong cách vĩ đại. Có thể nói là tôi chơi từ phía bên kia của tổng phổ, nhìn lại quá khứ”. Horowitz cho biết chưa bao giờ luyện tập quá ba hoặc bốn giờ một ngày và không chơi một bài luyện ngón, âm giai hay hợp âm rải từ năm 15 tuổi: “Tôi đã luyện tập đủ trong đời rồi. Điều quan trọng nhất là tinh thần. Nghệ thuật chơi piano là sự phối hợp của trí óc, trái tim và ngón tay với cảm xúc là chìa khóa. Bộ não là nơi kiểm soát cảm xúc; phải có một cái gì đó để được kiểm soát. Trái tim là người dẫn đường, khối óc là người điều khiển; những gì đi ra phải có cả hai”. Tư thế chơi đàn của ông cũng rất đặc biệt, lòng bàn tay luôn thấp hơn mặt phím đàn và khi chơi các hợp âm, các ngón tay được duỗi thẳng và khi cần chơi một nốt nhạc, ngón tay út cuộn lại, như Schonberg nhận xét: “giống như một con rắn hổ mang đang tấn công”. Stern nhớ về người nghệ sĩ vĩ đại: “Khi bạn nhìn anh ấy chơi cận cảnh, cứ như thể mỗi trong số 10 ngón tay của anh ấy đều có một trí thông minh riêng biệt vậy. Mỗi ngón di chuyển theo hướng của riêng nó vào đúng thời điểm và với trọng lượng phù hợp; anh ấy ngồi tách biệt, quan sát và điều khiển nó từ một cơ quan trung tâm mà không cần nỗ lực nhiều”.
Buổi biểu diễn cuối cùng của Horowitz diễn ra vào ngày 21/6/1987 tại Musikhalle Hamburg nhưng ông vẫn tiếp tục thu âm sau đó. Ông qua đời tại New York vào ngày 5/11/1989 ở tuổi 86 sau một cơn đau tim. Di hài ông được chôn cất trong phần mộ của gia đình Toscanini tại Cimitero Monumentale, Milan. Nghệ thuật biểu diễn piano của Horowitz vẫn sẽ luôn được ra nghiên cứu, rất nhiều người say mê, rất nhiều người tôn thờ, một số ít không thích thú, nhưng chắc chắn không ai có thể thờ ơ với ông, một trong những nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.
Nguồn:
nytimes.com
gramophone.co.uk
musicianguide.com
(Nguồn: https://nhaccodien.vn/)