Festival Âm nhạc Mới Thế giới ISCM 2026 - Romania

07:00 AM, Thứ hai, 09/02/2026
61

Tác giả: Thanh Nhã (Theo ISCM)

 

 

Festival Ngày Âm nhạc Mới Thế giới 2026 của Hiệp hội Âm nhạc Đương đại Quốc tế (ISCM) sẽ được tổ chức tại thủ đô Bucharest từ ngày 23 đến 31 tháng 5 năm 2026, do Hiệp hội các nhà soạn nhạc Romania, chi nhánh Romania của ISCM, phối hợp Bộ Văn hóa Romania,  Bảo tàng Quốc gia “George Enescu”, Đại học Âm nhạc Quốc gia Bucharest, Viện Goethe Bucharest, Viện Cervantes, Bảo tàng Nông dân Quốc gia, Đài Phát thanh Truyền hình Romania cùng nhiều đối tác khác.

 

 

 

Với chủ đề là “Columna Infinita” (Cột Vô Cực), được đặt theo tên tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của biểu tượng nghệ thuật Romania thế kỷ XX - nhà điêu khắc Constantin Brâncuși (kỷ niệm 150 năm ngày sinh của ông 1876 - 2026).

Festival Ngày Âm nhạc Mới Thế giới ISCM năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 23 đến 31 tháng 5 tại nhiều địa điểm hòa nhạc khác nhau: nhà hát Ateneul Român nổi tiếng (khai trương lần đầu năm 1888), Nhà hát Opera Quốc gia Bucharest (xây dựng năm 1885), Sala Radio (xây dựng năm 1959), Rạp chiếu phim Horia Bernea tại Bảo tàng Nông dân Quốc gia, Trung tâm Nghệ thuật Thanh niên Quốc gia Romania, Viện Goethe và Viện Cervantes, Phòng hòa nhạc George Enescu, Nhà hát Opera và Phòng thu Đa phương tiện thuộc Đại học Âm nhạc Quốc gia, trong đó phòng thu đa phương tiện là không gian hiện đại lý tưởng cho các buổi biểu diễn âm nhạc điện tử và đa phương tiện, Cung điện Mogoșoaia tráng lệ (được xây dựng từ năm 1698 đến năm 1702) nằm cách Bucharest 10 km, Trường cao đẳng Âm nhạc New Europe (nơi các buổi Hội thảo về âm nhạc diễn ra trong thời gian diễn ra Festival)…

Tác phẩm cho Ngày Âm nhạc Mới Thế giới ISCM năm 2026 bao gồm 14 hạng mục, từ dàn nhạc giao hưởng, tứ tấu đàn dây và hợp xướng đến các tác phẩm nghe nhìn và điện tử cũng như nhạc cho đàn cimbalom độc tấu (một loại đàn tam thập lục gõ, đóng vai trò trung tâm trong âm nhạc dân gian Romania).

Ban tổ chức đã nhận được 480 tác phẩm dự thi (bao gồm 315 tác phẩm chính thức từ 42 Chi nhánh thành viên ISCM, 12 thành viên liên kết và đối tác của ISCM, và 165 tác phẩm cá nhân), Ban Giám khảo quốc tế của ISCM đã chọn ra 70 tác phẩm, trải rộng khắp 14 hạng mục và đại diện cho 48 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong số các tác phẩm này, 17 nhà soạn nhạc đủ điều kiện tham dự Giải thưởng Nhà soạn nhạc trẻ ISCM 2026, sẽ được quyết định bởi Ban Giám khảo quốc tế của Festival. Các tác phẩm được chọn có giá trị cao về nghệ thuật và đa dạng về phong cách, bao gồm cả những nhà soạn nhạc nổi tiếng cũng như những tên tuổi mới nổi. Danh sách chính thức các tác phẩm được biểu diễn trong khuôn khổ Ngày Âm nhạc Mới Thế giới ISCM 2026 như sau (theo thứ tự bảng chữ cái):

1. Louis Franz Aguirre (sinh năm 1968 tại Cuba; hiện đang sống tại Đan Mạch), tác phẩm Bembé a Obbatalá y Oddúa cho dàn nhạc lớn (sáng tác năm 2017).

2. Cecilia Arditto Delsoglio (sinh năm 1966 tại Argentina; hiện đang sống tại Hà Lan): Anatomy of a jar cho dàn hợp xướng thiếu nhi (2020).

3. Tytti Arola (sinh năm 1990, Phần Lan): Ngọc trai cho sáo và nhạc cụ điện tử (2024).

4. Aleksandra Bajde (sinh năm 1987, Slovenia): A Clockwork Duo cho violon và violoncello (2023).

5. Richard Barrett (sinh năm 1959 tại xứ Wales; hiện đang sống tại Hà Lan): Tỏa sáng cho phương tiện âm thanh cố định (2019).

6. Kolbeinn Bjarnason (sinh năm 1958, Iceland): Nocturnes cho sáo solo (2025).

7. Diana Čemerytė (sinh năm 1974 tại Lithuania, hiện đang sống tại Đức): Meine Seele wartet… after listening to Bach cho sáo, clarinet, violon, viola, cello và piano (2020).

8. Yun-Chen Chang (sinh năm 1994, Đài Loan): Hướng tới (tưởng nhớ Brancusi) cho bộ ba nhạc cụ gõ (2025).

9. Paul Clift (sinh năm 1978 tại Úc; hiện đang sống tại Thụy Sĩ): Hệ thống cấp bậc trên thiên đường cho sáo, clarinet, violon, viola, cello, piano và bộ gõ (2014).

10. Ziv Cojocaru (sinh năm 1977, Israel): Người đến từ đâu? cho dàn nhạc thính phòng (2023).

11. Cătălin Crețu (sinh năm 1971, Romania): Richblick – nhạc điện tử (4 kênh phương tiện cố định) (2017).

12. George De Decker (sinh năm 1951, Bỉ): Coro: Versa Est In Luctum cho phương tiện cố định (2022).

13. Zosha Di Castri (sinh năm 1985 tại Canada; hiện đang sống tại Hoa Kỳ): Sprung Testament cho sáo (hoặc violon) và piano (2023).

14. Đỗ Hoàng Linh (sinh năm 1979, Việt Nam): Cưỡi ngựa đường dài cho tam tấu piano (2025).

15. Jan Ryant Dřízal (sinh năm 1986, Cộng hòa Séc): Morphing Amadeus cho dàn nhạc thính phòng (2025).

16. Núria Giménez-Comas (sinh năm 1980 tại Tây Ban Nha; hiện đang sống tại Pháp): Lluor. Désir des étoiles cho violon và cello (2024).

17. Michael Hannan (sinh năm 1949, Úc): Vươn tới các vì sao cho piano solo (2025).

18. Louise Harris (sinh năm 1983, Scotland): Eira cho phương tiện cố định âm thanh-video (2025).

19. Paweł Hendrich (sinh năm 1979, Ba Lan): Tenebrilis cho phương tiện cố định âm thanh-video (Video của Barnaba Mikułowski) (2025).

20. Heather Hindman (sinh năm 1976, Canada): Seule cho sáo solo (2024).

21. Satoru Ikeda (sinh năm 1961, Nhật Bản): Hai lá mầm cho tứ tấu đàn dây (2020).

22. Mikel Iturregi (sinh năm 1997 tại Tây Ban Nha; hiện đang sống tại Pháp): Isila bezain ilun cho sáo bass, clarinet bass, violon, cello, piano và bộ gõ (2024).

23. Lina Järnegard (sinh năm 1979, Thụy Điển): Tiếng nói bên trong cho clarinet và nhạc cụ điện tử (2025).

24. Peter Javorka (sinh năm 1993, Slovakia): Sans Marteau et sans Maître cho nhóm nhạc lớn (2024).

25. Maciej Kabza (sinh năm 1990, Ba Lan): asc / desc – (no) ending cho dàn nhạc (2024).

26. Jongwoo Kim (sinh năm 1968, Hàn Quốc): Sammulnori cho tam tấu piano (2024).

27. Steven Layton (sinh năm 1956 tại Hoa Kỳ): Căn phòng ký ức cho phương tiện cố định (2016).

28. Jessie Leov (sinh năm 1994 tại New Zealand, hiện sống tại Úc): Sự hội tụ cho bộ ba piano (2021).

29. James Hamilton Lowrie (sinh năm 1990 tại Canada): On Endless Hold cho tứ tấu đàn dây (2022).

30. Ida Lundén (sinh năm 1971 ở Thụy Điển): Tyskamossarnas sugluft cho sáo, kèn clarinet, violon, cello, piano và phương tiện cố định (2024).

31. Asher Lurie (sinh năm 2003 tại Hoa Kỳ): Time Breach 8̶0̶7̶B̶    cho kèn clarinet bass, violon, cello và piano (2024).

32. Sanda Majurec (sinh năm 1971 tại Croatia): Citywalk cho sáo, clarinet, violon, cello, piano và bộ gõ (2019).

33. Mao Zhu (sinh năm 1981 tại Trung Quốc): Nước mắt cá cho dàn hợp xướng (2025).

34. Anthony Marasco (sinh năm 1986 tại Hoa Kỳ): Kịch bản di cư cho phương tiện cố định (2022).

35. Leandro A. Martin (sinh năm 1974 tại Argentina, hiện sống tại Tây Ban Nha): Juego de Roles cho dàn hợp xướng thiếu nhi (2022).

36. Mark Micchelli (sinh năm 1991 tại Hoa Kỳ): Sự khác biệt của sáu mươi tám ngày cho tứ tấu đàn dây (2021).

37. Cristian Morales Ossio (sinh năm 1967 tại Chile): Bản thảo cho các loài chim tuyệt chủng cho clarinet contrabass solo (2018).

38. Daniel Moreira (sinh năm 1983 ở Bồ Đào Nha): Curta-metragem n.º2 (Sương mù mùa thu) cho solo cimbalom (2025).

39. Hisataka Nishimori (sinh năm 1986 tại Nhật Bản): Souten no Raika (Tia chớp trên nền xanh lam) cho violon và piano (2024).

40. Myrtó Nizami (sinh năm 1994 tại Hy Lạp): Biến mất trong nháy mắt cho độc tấu cello (2022).

41. Tomislav Oliver (sinh năm 1987 tại Croatia): Mixordia IV “truyền tải” cho sáo solo (2021).

42. Paul Pankert (sinh năm 1965 tại Bỉ): Trận đấu bị trì hoãn cho piano và nhạc điện tử trực tiếp (2021).

43. Charles Peck (sinh năm 1988 tại Hoa Kỳ): Trò chơi điện tử cho tứ tấu đàn dây (2021).

44. Anna Pidgorna (sinh năm 1985 tại Ukraina; hiện đang sống tại Canada): Vườn thú Stockhausen cho sáo và clarinet (2022).

45. Yurii Pikush (sinh năm 1998 tại Ukraina): Vận tốc thoát ly cho dàn nhạc thính phòng (2024).

46. Jakub Polaczyk (sinh năm 1983 tại Ba Lan, sống tại Hoa Kỳ): Ngủ đi nào, cưng ơi cho dàn hợp xướng thiếu nhi với đàn chuông đồ chơi (2024).

47. Lucky Pollock (sinh năm 2000 tại New Zealand): Sự kiên cường (sao Diêm Vương tam hợp sao Thổ) cho dàn nhạc dây (2024).

48. Gerhard Praesent (sinh năm 1957 tại Áo): Ma cà rồng nhỏ cho dàn hợp xướng thiếu nhi (2017).

49. Predrag Radisaveljvić (sinh năm 1993 tại Serbia): Nụ và cánh hoa cho dàn nhạc (2023).

50. Agita Reke (sinh năm 1992 tại Latvia): Không bị hạn chế cho phương tiện cố định (2024).

51. Clemens von Reusner (sinh năm 1957 tại Đức): Trải nghiệm thoáng qua cho phương tiện cố định (2025).

52. Matic Romih (sinh năm 1996 tại Slovenia): Sự siêu việt cho solo clarinet in Bb (2020).

53. Will Rowe (sinh năm 1992 tại Hoa Kỳ): Nghi lễ cho solo violon (2021).

54. Evis Sammoutis (sinh năm 1979 tại Síp): Khu vườn bí mật cho sáo/ alto sáo/ piccolo, clarinet, bass clarinet, violon, cello, piano và bộ gõ (2018).

55. Caterina Schembri (sinh năm 1993 tại Colombia; hiện đang sống tại Ireland): Ode to Psyche cho dàn hợp xướng (2025).

56. Evelin Seppar (sinh năm 1986 ở Estonia): Iris cho dàn hợp xướng (2024).

57. Tian Songfeng (sinh năm 1994 tại Trung Quốc): Ngày Đông chí cho tứ tấu đàn dây (2021).

58. Petra Stump-Linshalm (sinh năm 1975 tại Áo): Chạm vào âm thanh cho clarinet và piano (2020).

59. Iris Szeghy (sinh năm 1956 tại Slovakia; hiện đang sống tại Thụy Sĩ): Khúc bi ca và họa tiết Ả Rập cho độc tấu violon (2025).

60. Fred Szymanski (sinh năm 1950 tại Hoa Kỳ): Tor cho phương tiện cố định âm thanh-video (2022).

61. Eli Tausen á Lava (sinh năm 1997 tại Quần đảo Faroe): Hãy để tôi khóc cho dàn nhạc (2022).

62. Livia Teodorescu-Ciocănea (sinh năm 1959 tại Romania): Quán Café Momus cho violon và piano (2025).

63. Bente Leiknes Thorsen (sinh năm 1980 tại Na Uy): Cười nghiêng ngả / Hát bằng cả trái tim cho dàn hợp xướng (2024).

64. Helena Tulve (sinh năm 1972 tại Estonia): Wand'ring Bark cho dàn nhạc (2024).

65. Anna Veismane (sinh năm 1976 tại Latvia): Đối đầu cho dàn nhạc dây (2024).

66. Jixue Wu (sinh năm 1973 tại Trung Quốc): Độc thoại cho dàn nhạc (2021).

67. Huichun Yang (sinh năm 1999 tại Đài Loan; hiện đang sống tại Hoa Kỳ): Touch Improv cho nhạc điện tử trực tiếp (2025).

68. Jiajing Zhao (sinh năm 1996 tại Trung Quốc; hiện đang sống tại Vương quốc Anh): FOMO (Hội chứng sợ bỏ lỡ). cho phương tiện truyền thông cố định (2025).

69. Enzhe Zheng (sinh năm 1996 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông): Vượt ra ngoài bầu trời cho bộ ba piano với phương tiện cố định (2022).

70. Péter Zombola (sinh năm 1983 tại Hungary): Giờ bạn hãy buông bỏ cho dàn hợp xướng (2024).

Tổng cộng sẽ có 25 buổi hòa nhạc giới thiệu các tác phẩm được chọn trong khuôn khổ Ngày Âm nhạc Mới Thế giới ISCM năm 2026, cùng với các chương trình của dàn nhạc dân gian Romania, nhạc Byzantine do dàn hợp xướng Psalmodia trình diễn, một buổi hòa nhạc của bộ ba nhạc rock nujazz-progressive Opening Theory đến từ Bucharest, và một buổi biểu diễn trên sân khấu vở opera The Tempest của nhà soạn nhạc người Anh Thomas Adès, người đã nhận được Giải thưởng Nhà soạn nhạc trẻ ISCM đầu tiên vào năm 2002 cho bản tứ tấu đàn dây Arcadia.

 

 

 

Hiệp hội các nhà soạn nhạc Romania được thành lập năm 1925. Lịch sử tóm tắt của ISCM Romania cho thấy tổ chức hoạt động từ năm 1925 đến năm 1935, sau đó ngừng hoạt động từ năm 1948 đến năm 1950. Những nỗ lực khôi phục chỉ trở nên khả thi sau năm 1989, nhờ công lao của nhà soạn nhạc Nicolae Brânduş - Chủ tịch Hiệp hội các nhà soạn nhạc Romania từ năm 1990-1991 và 1993-2002, đồng thời là thành viên của Ban Chấp hành ISCM từ năm 1991-1993. Trước đó Chủ tịch Hội là các nhà soạn nhạc: Liviu Dănceanu (1991-1993), Maia Ciobanu (2002-2003), Sorin Lerescu (2003-2013) và Ulpiu Vlad (2013-2019).

 

 

 

Nhà soạn nhạc Diana Rotaru - Chủ tịch Hiệp hội các nhà soạn nhạc Romania, Giám đốc nghệ thuật Festival Ngày Âm nhạc Mới Thế giới 2026

 

Hiện nay, Chủ tịch Hiệp hội các nhà soạn nhạc Romania là nhà soạn nhạc Diana Rotaru; Ban Chấp hành là các nhà soạn nhạc: Irinel Anghel, Constantin Basica, Gabriel Malancioiu, Alexandru Murariu.

 

 

 

Nhạc sĩ Đỗ Hoàng Linh sinh năm 1979,  là một nhạc sĩ, phối khí hiện đang là biên tập viên Đài Phát Thanh và Truyền Hình Hà Nội. Anh tốt nghiệp Đại học Âm nhạc chính quy năm 2005 chuyên nghành Sáng tác tại Học Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Các lĩnh vực hoạt động của anh bao gồm: sáng tác nhạc kịch, nhạc múa, nhạc phim, hoà âm phối khí cho dàn nhạc và sáng tác ca khúc. Anh đã đạt nhiều giải thưởng Âm nhạc tại Việt Nam. Hiện tại anh vẫn cộng tác với các dàn nhạc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam và nhiều nhóm nhạc khác.

Tác phẩm “Vó Ngựa đường xa”: người xưa thường có câu “Đường xa mới biết ngựa hay". Một con ngựa có thể có vẻ ngoài khoẻ mạnh, chạy nhanh ban đầu, nhưng chỉ khi phải đi một quãng đường rất dài, vượt qua nhiều địa hình hiểm trở, nó mới thực sự bộc lộ hết sức bền và khả năng của mình. Cho thấy nó có “hay” hay không. Phần 1: Miêu tả những bước chạy nhanh và tiếng hí vang khoẻ mạnh của một chú ngựa phi nước đại vượt qua nhiều địa hình hiểm trở thể hiện sức bền và khả năng của mình, cho thấy nó là một chú ngựa hay. Phần 2: miêu tả những lúc thảnh thơi của chú ngựa trên quãng đường xa nhưng lúc nào cũng hướng tới phía trước.

Tác phẩm sẽ được biểu diễn vào trưa ngày 24 tháng 5 tại Lâu đài Mogosoaia, do nhóm Trio Larson thực hiện: Andreea Greluş – violon, Mircea Marian – cello, Cătălina Bordeanu – piano.

Chia sẻ:
facebook share
instagram share instagram share

Xem nhiều