Tác giả: Nguyễn Thị Minh Châu

(Tiếp theo và hết)
Hướng tới chân dung nhà soạn nhạc nữ
Có được chân dung âm nhạc của một nhà lý luận kiêm sáng tác cả thanh nhạc và khí nhạc không dễ, càng không dễ diễn tả bằng lời, cũng không tránh khỏi đôi chỗ khó đọc vì liên quan đến học thuật. Chỉ mong phác họa được phần nào những nét chính trong ngôn ngữ âm nhạc từ những gì tôi cảm nhận được qua thành quả sáng tạo hơn bảy thập niên của người phụ nữ đa năng này.
Nội dung đề tài
Nếu nhân vật chính của cựu binh Huy Du là người lính, thì của cô giáo Nguyễn Thị Nhung là phụ nữ. Hình ảnh đất nước và con người đều được phản chiếu qua con mắt phụ nữ, theo nhịp đập của trái tim phụ nữ.
Nội dung cụ thể hơn trong ca khúc với cuộc sống mới “khắp chốn có bàn tay ta” (Con đường tươi đẹp) và niềm tin “sức ta thắng được trời” (Thay trời làm mưa); với quê hương được lồng vào hình tượng phụ nữ tóc dài như dòng kênh xanh “chung thủy, thân thương, kiên cường, bất tử” (Mái tóc quê hương, phỏng thơ: Trần Công Tùng).
Tình yêu hòa vào thiên nhiên, để đất với người là một: “Tình người còn mãi với non sông” (Trở về trường xưa). Trong cảnh thấy tình, trong tình luôn có cảnh: có khóm tre làng dưới trăng của mối tình đầu (Trăng sáng đêm nay); có biển rộng mênh mông trong nỗi nhớ em (Ngày mai sẽ về); có mùa thu, hoa, gió, nắng trong nỗi nhớ anh (Kỷ niệm, phỏng thơ: Nguyễn Thị Việt Hòa); có bông hồng nhỏ tượng trưng cho tình mùa thu (Hương hoa mùa thu) và tình mùa đông (Đêm Giáng sinh, thơ: Nguyễn Thị Sâm); có mưa rơi ngoài trời và mưa trong lòng người của tình xa cách (Bâng khuâng)… Luôn lạc quan và kiên định, nhưng những năm sau này nữ nhạc sĩ cũng âm thầm se thắt với tình buồn, có lúc phân vân tự vấn: “Tình yêu là gì nhỉ? Tình vui hay tình buồn? Tình thương hay tình nhớ? Có lẽ là tình chờ” (Tình yêu, thơ: Nguyễn Thị Sâm).
Vẫn tình yêu trong trẻo và thủy chung, vẫn hình tượng phụ nữ và quê hương hòa quyện làm một, tất cả được khái quát trong khí nhạc. Những cô gái trẻ trung mà anh dũng, những người mẹ hiền hậu mà can trường được khắc họa thành tượng đài âm thanh trong Những cô gái phương Nam, Nữ anh hùng miền Nam, Huyền thoại Mẹ… Những miền quê thân thương với cảnh vật nên thơ, hội làng tưng bừng và nỗi khát khao hòa bình được đặc tả trong Quê mẹ, Mùa xuân, Chiều quê hương, Khát vọng, Hương quê…
Là người mẹ hết lòng vì con, nhạc sĩ rất ưu ái trẻ thơ. Bên cạnh những bài hát tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng còn có những tiểu phẩm độc tấu hoặc hòa tấu cho thiếu nhi và về thiếu nhi, diễn tả những trò chơi dân dã của tuổi thơ và cả nỗi đau mất mát đầu đời trong chiến tranh (Niềm vui của em, Vui chơi, Trâu lá đa, Khúc hát sớm mai, Đau thương và phẫn nộ).
Thể loại - hình thức - cấu trúc
Một nhà lý luận bậc thầy đương nhiên rất rõ ràng, khúc chiết và chặt chẽ trong kết cấu, nhưng vẫn linh hoạt theo cách riêng, không tự hạn chế mình trong khuôn mẫu bài bản. Thường gặp ở tác phẩm thanh nhạc là hai đoạn đơn phát triển, ít nhắc lại, ít cân phương, không phô trương kỹ thuật trong khoảng âm quá rộng. Đơn giản, xinh xắn, chỉ gói gọn trong một quãng 8 là bài hát cho tuổi nhi đồng (Em yêu mùa hè). Đôi khi còn “tối giản” chỉ một đoạn đơn vài nhịp gồm bốn nốt nhạc trong khoảng âm quãng 5, quãng 6 - vừa cữ giọng của tuổi lên ba bi bô học nói (Lời chào buổi sáng, Mùa hè đến).
Các tác phẩm khí nhạc cũng thiên về tính gọn gàng súc tích. Khá đa dạng về biên chế nhạc cụ - từ độc tấu và hòa tấu thính phòng (solo, duo, trio) đến dàn nhạc (dàn dây, giao hưởng hai quản), khá phong phú về thể loại (prelude, serenade, ballade, sonate, sonatine, biến tấu, tổ khúc, giao hưởng thơ), nhưng không chạy theo xu hướng quy mô đồ sộ, tác phẩm thường gói trọn trong cấu trúc một chương, chỉ đôi ba bản có ba chương (Hương quê, Mùa xuân) hoặc nhiều khúc (Khúc hát sớm mai, Quê mẹ).
Đôi khi ranh giới phân định giữa các hình thức âm nhạc bị xóa nhòa, cũng không quá cứng nhắc với quy định thông thường về chức năng mỗi phần. Đau thương và phẫn nộ pha trộn hình thức sonate với ba đoạn phức (ABA’) có phần tái hiện rút gọn; Những cô gái phương Nam vượt khỏi khuôn mẫu sonate với mở đầu bằng mấy nhịp tựa như cadenza là đoạn trưng trổ kỹ thuật thường gặp ở phần phát triền, còn phần phát triển chỉ ưu ái chủ đề 1 và phần tái hiện lại chỉ dành cho chủ đề 2. Vậy là phần cuối thường rút gọn, có thể kể thêm Chiều quê hương; nhưng cũng không bỏ qua cơ hội phát triển mở rộng thành tái hiện động như Nữ anh hùng miền Nam.
Chất liệu âm nhạc
Nổi bật là màu sắc dân tộc với các phương thức khác nhau trong cách kế thừa vốn cổ: sử dụng làn điệu dân ca nhạc cổ quen thuộc hoặc chỉ dùng những yếu tố đặc trưng như thang âm ngũ cung không bán âm, âm hình tiết tấu và những nét luyến láy quen thuộc của dân gian; như lối phát triển linh hoạt theo chiều ngang và chồng âm theo các quãng đặc trưng ngũ cung trong âm nhạc nhiều bè.
Làn điệu dân ca có thể hiện diện trực tiếp trong khí nhạc. Ở bài này một làn điệu hoặc một nét dân ca được lặp lại xuyên suốt tác phẩm, ở bài khác vài âm điệu dân gian lại họp mặt trong cùng một bức tranh đa sắc. Bèo dạt mây trôi đóng vai chủ đạo trong Trông chờ, liên kết các phiên bản thử nghiệm đưa vốn cổ vào âm nhạc nhiều bè với các phần đệm khác nhau. Mùa xuân lấy nét nhạc mở đầu Trống cơm làm chủ đề chính, sau đó chủ đề phụ chương đầu và chủ đề chính chương cuối (đoạn điệp khúc của hình thức rondo), rồi cả coda cũng lấy cảm hứng từ nét nhạc này để giữ cho toàn tác phẩm một hình tượng thống nhất của mùa xuân. Khát vọng lại mở ra không gian lễ hội dân gian đa vùng miền, từ đồng bằng Bắc bộ với Mừng hội cướp bông [thí dụ 1a] đến âm điệu cồng chiêng Tây Nguyên, rồi trở ngược lên vùng núi Tây Bắc với Inh lả ơi [thí dụ 1b].
Thí dụ 1a:
Thí dụ 1b:
Thường gặp hơn, cả trong thanh nhạc cũng như khí nhạc, vẫn là không dựa vào làn điệu cụ thể, mà chỉ mượn vài nét đặc thù vùng miền nào đó. Âm điệu dân ca đồng bằng Bắc bộ đã tưng bừng ngay trong sáng tác khí nhạc đầu tay Niềm vui của em. Giai điệu nhún nhảy nhẹ nhàng kiểu dân vũ miền núi phía Bắc tạo nên vẻ cuốn hút cho khúc nhạc Niềm vui hôm nay (mở đầu tổ khúc Khúc hát sớm mai). Thoảng chút hương vị chèo xứ Bắc trong Hương quê (chương đầu và cuối), còn Những cô gái phương Nam và Nữ anh hùng miền Nam cùng hòa theo sắc màu Nam bộ. Cũng man mác nét buồn phương Nam trong Quê mẹ có pha thêm “mây í ì i… trôi” gợi nhớ câu hát Bèo dạt đất Bắc. Mùa xuân (chương II) và Huyền thoại Mẹ đều có lúc dàn trải giọng hò sông nước, còn ca khúc Hoa sứ trắng lại dồn dập câu hò lao động “hò dô hò hự” liên tục lặp lại như một motif hạt nhân phát triển giai điệu [thí dụ 2].
Thí dụ 2:
Có một mối quan hệ qua lại giữa thanh nhạc và khí nhạc trong sự hình thành đường nét giai điệu. Cũng như làn điệu dân ca, bài hát được trút bỏ ngôn từ để trọn vẹn “hóa thân” vào nhạc không lời. Tiểu phẩm piano cho thiếu nhi Trâu lá đa được chuyển soạn từ bài hát cùng tên của Huy Du, còn chương II Kỷ niệm trong tổ khúc Hương quê đã kế thừa giai điệu ca khúc cùng tên của chính tác giả Nguyễn Thị Nhung. Biểu hiện kín đáo hơn của mối liên quan này là sự đề cao chất ca xướng trong khí nhạc và vài dấu hiệu ảnh hưởng phong cách diễn tấu nhạc cụ trong bài hát (các chỉ dẫn cường độ, sắc thái, nhấn nhá, ngắt giữa câu…). Đây là điểm chung của cặp vợ chồng nhạc sĩ, cũng như của đa số nhà soạn nhạc lớn lên từ ca khúc.
Chất dân ca có thể hình thành từ một “chiêu” kế thừa từ vốn cổ, đó là kết hợp hai thang âm ngũ cung (Chiếc áo xanh, Thay trời làm mưa, Con đường tươi đẹp, Theo bước anh giải phóng quân) hoặc ba thang âm với nhau (Mái tóc quê hương, Hoa sứ trắng). Giai điệu dù bảy âm vẫn thuộc về ngũ cung nhờ kết hợp nối tiếp hoặc lồng các thang năm âm khác nhau, dấu hiệu nhận biết ở đây chính là vị thế của các quãng đặc trưng ngũ cung: 4, 5 và 7.
Giai điệu mang hơi hướng cổ truyền còn bởi những chi tiết tinh tế đặc thù: đường nét luyến láy [thí dụ 3a, xem lại thí dụ 2] và tiết tấu đảo phách (syncope) [thí dụ 3b].
Thí dụ 3a:
Thí dụ 3b:
Vận dụng các thủ phát triển một cách linh hoạt, sao cho phù hợp với đường nét giai điệu đậm chất ngũ cung trong âm nhạc nhiều bè hoàn toàn tùy thuộc vào sức sáng tạo cá nhân, từ đó hình thành những nét riêng trong ngôn ngữ âm nhạc của mỗi tác giả.
Thủ pháp phát triển
Phát triển không còn là độc quyền của phần phát triển - tức phần giữa hay phần trung tâm. Các thủ pháp phát triển có thể “xuất đầu lộ diện” ngay phần đầu, sau khi trần thuật mỗi chủ đề và tiếp tục “ra tay” biến phần cuối thành tái hiện động. Chính vì các chủ đề đã được phát triển liên tục ngay từ phần trình bày, nên phần phát triển có cơ hội tung ra chất liệu hoàn toàn mới, đây chưa phải trường hợp duy nhất chỉ có trong Khát vọng. Nữ anh hùng miền Nam cũng vậy, tương phản với sự căng thẳng đã có ở phần trình bày là một ốc đảo tạm lắng xuống trong bão táp, trước khi sóng gió trở lại trong phần tái hiện, nơi mà các chủ đề tái xuất theo thứ tự ngược lại và tiếp tục phát triển lên cao trào để dẫn tới coda khá dài trong âm lượng lớn.
Phát triển bằng tương phản tính chất đem lại vẻ đa dạng cho ngôn ngữ biểu hiện. Huyền thoại Mẹ bắt đầu từ tốn trầm tư như lời kể của người dẫn chuyện, đưa câu chuyện vào mạch nối tiếp những khúc nhạc mang tính cách khác nhau: trữ tình dàn trải, hành khúc dứt khoát, hoạt bát duyên dáng, hài hước tinh nghịch, dạt dào rộng mở.
Tính đa dạng trong một hình tượng được tạo bởi thủ pháp tương phản cùng nguồn, thông qua sự chuyển đổi một hay vài yếu tố: nhịp điệu, tiết tấu, hòa thanh, kết cấu tuyến nhạc (facture), phân bổ bè bối (phức điệu), âm sắc nhạc cụ trong hòa tấu và dàn nhạc (phối khí). Tương phản cùng nguồn được thấy rõ nhất ở các biến tấu. Nếu Trông chờ phát triển các bè đệm bằng hòa thanh, facture và âm hình tiết tấu, thì Quê mẹ kết hợp uyển chuyển giữa biến tấu nghiêm khắc và biến tấu tự do với sự thay đổi tốc độ, độ dài, giai điệu, tính chất, kết cấu bè.
Cách tận dụng và tiết kiệm chất liệu chủ đề đem lại hiệu quả thống nhất cho toàn bài còn được thấy trong nhiều tác phẩm khác. Chủ đề chính không những được phát triển triệt để, mà còn lưu lại chút gì đó trong chủ đề phụ, thậm chí trong chủ đề chính chương sau (Mùa xuân, Hương quê, Những cô gái phương Nam, Đau thương và phẫn nộ).
Một trong các thủ pháp phát triển có thể nổi trội hơn trong vài nhịp vài đoạn, nhưng nhìn chung luôn có sự gắn kết hữu cơ trong tổ hợp không thể tách rời giữa các thủ pháp khác nhau: phát triển bằng tiết tấu, hòa thanh, phức điệu và cả phối khí trong các tác phẩm cho dàn nhạc.
Phát triển bằng thay đổi tiết tấu để tạo tương phản cùng nguồn, như đã nói trên, luôn được ưu tiên ở hình thức biến tấu (Trông chờ, Quê mẹ), trong đó tiết tấu có âm hình đa dạng và ngày càng dày thêm, phức tạp thêm, đẩy các biến thể (variante) đi xa dần chủ đề ban đầu (theme). Ngược lại là cách phát triển bằng motif hạt nhân giữ nguyên âm hình tiết tấu. Góp phần không nhỏ trong phát triển chủ đề gây kịch tính căng thẳng là motif chấm - giật hoặc ngắt - giật ở Nữ anh hùng miền Nam, tạo chuyển động lôi cuốn là âm hình tiết tấu chùm ba (triolet) hoặc chùm sáu cũng ở Nữ anh hùng miền Nam và cần kể thêm Hương quê, Đau thương và phẫn nộ.
Nền trì tục trên một âm hình tiết tấu, có lúc chỉ trên một cung bậc được sử dụng trong không ít tác phẩm. Chiều quê hương có phần đệm đơn giản, tay trái piano đều đặn lặp lại nốt rê ở ba âm khu khác nhau (D-d-d1) và cứ thế kéo dài làm nền tôn vẻ đẹp quyến rũ cho giai điệu của violon [thí dụ 4]. Vai trò tạo nền của nốt rê không hoàn toàn mất đi ở đầu và cuối đoạn giữa và đương nhiên còn trở lại trong tái hiện. Với sơ đồ hòa thanh luân phiên màu sắc thứ - trưởng cùng tên (cũng Dm-D-Dm như Serenade Schubert), bản serenade của miền quê Việt là một thí dụ cho cách phát triển phần đệm đơn giản, thoáng và mỏng, rất “ăn” với giai điệu ngũ cung.
Thí dụ 4:
Nền trì tục liên kết các quãng đặc trưng ngũ cung cũng luôn xuất hiện trong Hương quê, Nữ anh hùng miền Nam, Huyền thoại Mẹ và Mùa xuân [thí dụ 5a, xem thêm thí dụ 9a]. Sự kết hợp giữa nền trì tục với các tuyến giai điệu tăng thêm hiệu quả chồng âm màu sắc “ngẫu nhiên” trên các quãng đặc trưng ngũ cung [thí dụ 5b].
Thí dụ 5a:
Thí dụ 5b:
Ưu thế các quãng 4 và 5 trong đúp bè giai điệu cũng có thể bắt gặp ngay cả ở thể loại ca khúc [thí dụ 6].
Thí dụ 6:
Thêm một biểu hiện về ảnh hưởng của nhạc nhiều bè trong thể loại ca khúc: ca khúc cũng có thể chứng tỏ thế mạnh các quãng đặc thù ngũ cung trong cả chiều ngang lẫn chiều dọc, thậm chí còn kết hợp hai bè linh hoạt phát triển chiều ngang mang “tính phức điệu”, nghĩa là không chỉ luôn đúp bè kiểu “cột đèn”, mà mỗi bè tiến triển khá độc lập, khác lời, khác giai điệu và tiết tấu, có lúc còn “chéo bè” nhau [thí dụ 7].
Thí dụ 7:
Phát triển bằng phức điệu sẽ còn được nhắc tới sau. Xét tiếp về hiệu ứng chiều dọc, đương nhiên khí nhạc vẫn là “đất dụng võ” của hòa thanh màu sắc với lối chồng âm tự do, chủ yếu trên các quãng 4 và 5 [thí dụ 8, xem lại thí dụ 1b].
Thí dụ 8:
Lặp lại ở nhiều tác phẩm là lối kết ở chồng âm tự do, giảm bớt vị trí độc tôn của hợp âm ba thông thường:
-kết ở chồng âm lồng các quãng 4 và 5: Khát vọng (d-e-a), Đau thương và phẫn nộ (f-b-c), Trâu lá đa (f-b-c), Mùa xuân (d-e-fis-a), Hương quê (d-e-g-a chương đầu, c-e-g-h chương cuối);
-kết ở chồng âm “rỗng” trên quãng 5: Nữ anh hùng miền Nam, Chiều quê hương, Huyền thoại Mẹ, Hương quê (chương giữa), Niềm vui hôm nay (khúc nhạc đầu trong Khúc hát sớm mai) và các tiểu phẩm: Niềm vui của em, Vui chơi;
-kết ở chồng âm quãng 8 và đồng âm: Khúc hát sớm mai (khúc nhạc cuối trong tổ khúc cùng tên), Những cô gái phương Nam, Quê mẹ, Huyền thoại Mẹ.
Cũng cần nói thêm về âm lượng của các chồng âm kết. Đưa những nhịp cuối vào âm thanh nhỏ và mờ dần, cách kết đó có vẻ nữ tính hơn, hợp với “phái yếu” hơn chăng? Hình như kết lắng là lựa chọn ưa thích ở một phụ nữ mạnh mẽ nhưng không khoe mẽ, là cách biểu đạt thích hợp với hình tượng phụ nữ, dù cương quyết kiên cường đến đâu vẫn là phụ nữ, vẫn là phái đẹp. Trong cương luôn có nhu, đôi khi nhu còn đem lại ấn tượng sâu sắc và hiệu quả thuyết phục hơn mọi khoa trương ồn ào. Có lẽ vì thế mà nhà soạn nhạc nữ dùng “kết lịm” không chỉ ở các chương giữa của Nhớ bạn (khúc nhạc thứ hai trong Khúc hát sớm mai), Kỷ niệm (chương II của Hương quê), mà còn ở cuối tác phẩm: Chiều quê hương, Huyền thoại Mẹ, Khát vọng, Quê mẹ.
Thủ pháp phát triển bằng hòa thanh trong các tác phẩm dàn nhạc - Hương quê, Khát vọng và Nữ anh hùng miền Nam - được vận dụng khá tự do, luôn ưu tiên tính độc lập của các bè. Chính sự đan xen các tuyến giai điệu không giống nhau đã củng cố thêm mối gắn kết giữa phát triển hòa thanh với phức điệu.
Tính phức điệu thấy rõ ở lối phát triển tự do giữa các bè đối đáp, phụ họa và bồi đắp cho nhau [thí dụ 9a]. Phức điệu hiện diện trong không ít tác phẩm: với hình thức canon đơn giản trong Niềm vui của em, Khúc hát sớm mai, Những cô gái phương Nam, Huyền thoại Mẹ [thí dụ 9b]; thủ pháp đảo vị trí bè giữa hai tay piano trong Mùa xuân; cách hình thành giai điệu phần giữa gần như đảo ảnh chủ đề chính trong Hương quê; lối trình tấu lần lượt chủ đề kiểu fugato nét nhạc Mừng hội cướp bông ở các cung bậc khác nhau trong phần phát triển của Khát vọng.
Thí dụ 9a:
Thí dụ 9b:
Trong sáng tác giao hưởng, các thủ pháp phát triển bằng tiết tấu, hòa thanh và phức điệu còn được cộng hưởng thêm hiệu quả âm sắc nhạc cụ. Vai trò phối khí thấy rõ qua tính đa năng của bộ dây và gỗ, lúc đảm trách giai điệu chính, lúc chơi bè đúp hoặc phụ họa, đối đáp; qua sự đa sắc của bộ đồng, hoặc kịch tính mạnh mẽ, hoặc tươi sáng ấm áp; qua vẻ đa dạng của bộ gõ trong tiết tấu chuyển động của không gian và thời gian. Đặc biệt ấn tượng trong Nữ anh hùng miền Nam là âm sắc gõ đã tăng thêm mối đe dọa và vẻ tàn khốc của chiến tranh, rồi sau đó lại tạo âm nền trì tục cho khoảng sâu lắng ngắn ngủi giữa cuộc chiến [thí dụ 10].
Thí dụ 10:
Những tìm tòi trong sự kết hợp tư duy đơn âm và đa âm cho thấy chất lượng học thuật không nhất thiết chỉ thuộc “lãnh địa” của lý thuyết âm nhạc phương Tây. Vốn hiểu biết sâu sắc kiến thức các truyền thống âm nhạc Tây và ta chính là nền tảng vững chắc để làm bệ phóng cho sự sáng tạo bay bổng, đưa âm nhạc nhiều bè thoát khỏi tư duy một bè của ca khúc đại chúng. Vẫn giữ tính giai điệu nhưng không đơn điệu; mới lạ nhưng không phá phách đến mức xa lạ - đó là cách mà nhà soạn nhạc nữ của chúng ta thể hiện trong hành trình sáng tạo hướng tới ngôn ngữ khí nhạc phù hợp với thẩm âm và cảm nhận của công chúng Việt Nam.
*
“Dành cả đời mình cho âm nhạc” - người phụ nữ, tác giả của nhiều chân dung nhạc sĩ đã từng viết vậy về đức lang quân của mình. Câu ấy cũng đúng với chính bà. Đúng, nhưng cần thêm “và cho gia đình!” - vậy mới công bằng và chính xác về bà, người luôn tận tâm hết lòng với chồng con. Vẫn buồn vui với mọi nỗi niềm của các con, dõi theo từng bước phát triển năng khiếu của các cháu, bà chẳng mong muốn gì thêm cho riêng mình, chẳng màng tới chương trình kỷ niệm tuổi 90 của mình mà chỉ đau đáu với việc kỷ niệm tròn 100 tuổi của ông.
Có một phụ nữ như thế đó trong nền nhạc mới Việt Nam.
16-8-2025