CÓ MỘT PHỤ NỮ NHƯ THẾ TRONG LÀNG NHẠC (Phần 1)

07:00 AM, Thứ năm, 13/08/2026
6

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Châu

 

Kỷ niệm tuổi 90 của nhạc sĩ Nguyễn Thị Nhung (1936)  

và tuổi 100 của nhạc sĩ Huy Du (1926)

 

Tôi có một ý định từ lâu vẫn chưa thực hiện được: “họa” chân dung âm nhạc người phụ nữ của một cặp đôi đặc biệt trong làng nhạc. Đặc biệt vì họ đều là tác giả nhạc thính phòng - giao hưởng, đều có tên tuổi trong lĩnh vực sáng tác và hoạt động âm nhạc. Người đàn ông - nhạc sĩ Huy Du - thuộc thế hệ đầu đàn là người sở hữu nhiều bài hát nổi tiếng từ hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. “Nửa kia” của ông cũng nổi tiếng với danh nghĩa nhà soạn nhạc, nhà lý luận, nhà sư phạm, nhà quản lý: nhạc sĩ Nguyễn Thị Nhung.

Cặp đôi duy nhất của khí nhạc Việt Nam

Họ gặp nhau lần đầu cách đây… 80 năm! Chàng vừa đôi mươi, còn nàng bằng nửa số tuổi chàng. Hình ảnh anh thanh niên cùng phố trong mắt cô bé chín-mười tuổi ngày ấy chưa có gì sâu đậm, chỉ đơn giản là một người bạn của hai anh trai, cùng sinh hoạt trong đội Sao vàng với các anh.

Giữa hai nhân vật tuổi đời cách nhau tròn một thập kỷ đó có cùng một đam mê: âm nhạc. Mê nhạc hơn cả học văn hóa, chàng mày mò tự học và chơi đàn ở rạp phim, còn nàng từ nhỏ đã tham gia biểu diễn trong đội nhi đồng Mai Hắc Đế. Tình cờ họ đều gắn bó bước đầu sự nghiệp âm nhạc của mình với cây đàn violon, đều viết bài hát ở độ tuổi đôi mươi khi chưa được đào tạo bài bản về sáng tác.

Quá trình đào tạo của họ đến muộn hơn: nhạc sĩ Huy Du được gửi sang học ở Nhạc viện Bắc Kinh khi ngấp nghé tuổi 30 (1955) và đã nổi danh với Sẽ về Thủ đô, Ba Vì năm xưa, Sóng nước Ngọc Tuyền, Những gác chuông giáo đường, Tôi yêu hòa bình… Năm ấy, sau khi hoàn thành chương trình sư phạm ở Nam Ninh - Trung Quốc trở về dạy nhạc tại trường Trưng Vương, cô giáo trẻ Nguyễn Thị Nhung cũng tham gia lớp bổ túc trung cấp âm nhạc của Ban Nhạc vũ (tiền thân Trường Âm nhạc Việt Nam). Số phận đã gắn kết họ bằng lời ước hẹn, đợi đến khi chàng về phép làm đám cưới và bắt đầu cuộc sống vợ chồng mỗi người một phương.

Nhạc sĩ Huy Du bước vào lĩnh vực khí nhạc với Miền Nam quê hương ta ơi (violon và dàn nhạc), tổ khúc biến tấu Kể chuyện sông Hồng (tam tấu violon, violoncelle, piano), cũng là lúc xuất hiện một Nguyễn Thị Nhung với những bài hát đầu tay chỉ nghe tên cũng thấy rạng ngời niềm tin yêu cuộc đời: Ngày vui sướng của em, Thay trời làm mưa, Con đường tươi đẹp, Trời sáng lên rồi… Cô giáo trẻ chính thức chuyển sang làm giảng viên Trường Âm nhạc Việt Nam sau khi hoàn thành chương trình trung cấp violon (1959-1963). Xa chồng nhưng cô không hoàn toàn đơn độc trong cái mốc đáng nhớ đó, bởi cô cùng đứa con đầu lòng trong bụng đã tốt nghiệp với tác phẩm của chồng mình: Miền Nam quê hương ta ơi.

Lại một mình gánh vác gia đình để chồng đi từ mặt trận này tới mặt trận khác, cô còn tiếp tục học chuyên ngành sáng tác và trở thành nhà soạn nhạc nữ đầu tiên ở Việt Nam “trình làng” các tác phẩm thính phòng Niềm vui của em, Đau thương và phẫn nộ, Trông chờ… Cô cũng viết hành khúc và tình ca, trong đó gửi gắm nỗi nhớ thương của người vợ thủy chung chờ chồng “dõi theo bước chân anh hành quân khắp chiến trường” (Theo bước anh giải phóng quân), “Áo em nhuộm cho anh dù rách lành vẫn ấm/ Vẫn tươi mãi màu xanh của tình yêu đằm thắm” (Chiếc áo xanh, phổ thơ Tố Hữu).

Nhạc sĩ Huy Du đã đạt tới đỉnh cao sự nghiệp với Mộc miên hoa, Anh vẫn hành quân, Bế Văn Đàn sống mãi, Tình em, Bạch Long Vĩ đảo quê hương, Cùng anh tiến quân trên đường dài, Chưa hết giặc ta chưa về, Nổi lửa lên em, Đường chúng ta đi, Trên đỉnh Trường Sơn ta hát… Đó cũng là lúc nhạc sĩ Nguyễn Thị Nhung khẳng định tên tuổi mình trong các lĩnh vực khác nhau: sáng tác, lý luận và đào tạo. Cùng chương trình tu nghiệp tại Bulgari (1968-1972) và tiếp đến bảo vệ luận án tiến sĩ (1981) là sự xuất hiện liên tiếp các tác phẩm thính phòng - giao hưởng: chủ đề và biến tấu cho piano Quê mẹ, sonate cho violon và piano Những cô gái phương Nam, sonatine cho piano Mùa xuân, giao hưởng thơ Nữ anh hùng miền Nam, tổ khúc giao hưởng Khúc hát sớm mai, serenade cho violon và piano Chiều quê hương, giao hưởng thơ Khát vọng, ballade cho violon, basson và piano Huyền thoại Mẹ, tổ khúc dây Hương quê... Chưa kể nhiều bộ giáo trình các cấp về lịch sử âm nhạc và phân tích tác phẩm, về thể loại và hình thức âm nhạc; hàng loạt công trình khoa học, nổi bật là các cuốn sách Nhạc khí gõ và trống đế trong chèo truyền thống, Âm nhạc thính phòng giao hưởng Việt Nam và các bộ sách đồng tác giả Âm nhạc mới Việt Nam: Tiến trình và thành tựu, Âm nhạc Việt Nam: Tác giả - tác phẩm.

Các tác phẩm khí nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Thị Nhung đều được xuất bản và phát sóng, không ít tác phẩm được biểu diễn ở nước ngoài từ những năm 80: Đau thương và phẫn nộ đã trình diễn ở Liên Xô, Tiệp, Hungari; Mùa xuân ở Liên Xô và Hungari; Quê mẹ Nữ anh hùng miền Nam ở Liên Xô... Có những lần tác phẩm của hai vợ chồng cùng vang lên trong một đêm nhạc ở xứ người, đó là buổi hòa nhạc tại Praha với Câu chuyện sông Hồng của Huy Du và Chiều quê hương của Nguyễn Thị Nhung (5/9/1983), tại Moskva vẫn Câu chuyện sông Hồng của Huy Du nhưng sánh đôi cùng Mùa xuân của Nguyễn Thị Nhung (24/5/1985), tại Novosibirk là Miền Nam quê hương ta của Huy Du và Khát vọng của Nguyễn Thị Nhung (17/12/1987).

Nửa thế kỷ bên nhau, họ quá hiểu nhau trong cuộc sống cũng như trong âm nhạc. Vợ nhận ngay ra chồng trong bài hát tình cờ nghe qua đài dù tác giả không dùng tên thật trong thời gian ở tuyến đầu. Song trong sáng tác họ hoàn toàn độc lập, không can thiệp vào tác phẩm của nhau. Sự cộng tác chỉ có trong điện ảnh: vợ là người đảm nhận nền hòa âm cho giai điệu của chồng cất cánh trong các phim tài liệu Quảng Trị giải phóng, Đại thắng mùa xuân năm 1975.

Có vài điểm tương đồng: cũng như một vài nhạc sĩ cùng thế hệ, họ trưởng thành từ ca khúc tiến tới khí nhạc rồi lại trở về với ca khúc. Họ đã thành công với những sáng tác yêu đời yêu người, ngợi ca quê hương đất nước, cùng tươi sáng niềm tin xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, rồi cùng từ cái chung về với cái riêng, với lòng mình ở tuổi xế chiều. Có thêm một Huy Du suy tư, sâu lắng, triết lý trong Người mù hát tình ca, Tiếng chổi trong đêm, Chiều không em, Chợ chờ em vẫn chờ ai… Và có thêm một Nguyễn Thị Nhung bâng khuâng, hoài niệm, đôi khi cô đơn suy ngẫm phận người trong nỗi buồn không tên với Trở về trường xưa, Bâng khuâng, Nghìn trùng én bay (thơ: Nguyễn Thị Sâm), Hồn hoang trong hoàng hôn (thơ: Nguyễn Thị Sâm): “Chợt thấy mình bơ vơ/ Trong nhân gian mịt mùng/ Áng mây hay sợi khói/ Cũng chìm vào hư vô”.

Cùng khởi đầu sự nghiệp âm nhạc từ lĩnh vực biểu diễn và cả đời đắm mình trong lĩnh vực sáng tác, họ còn gánh trách nhiệm quản lý âm nhạc và công việc xã hội trong nhiều năm: nhạc sĩ Huy Du hoạt động ở vị trí Phó Tổng thư ký (1979-1983) và Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1983-1989), đại biểu Quốc hội các khóa VII và VIII (1982-1992); còn nhạc sĩ Nguyễn Thị Nhung, một trong bốn phó tiến sĩ đầu tiên của Nhạc viện Hà Nội đã trở thành Chủ nhiệm Khoa Lý luận - sáng tác - chỉ huy (1981-1984) và Phó Giám đốc Nhạc viện (1984-1991). Chưa hết, người phụ nữ nhỏ nhắn đã góp phần không nhỏ cho lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo với cương vị Phó giáo sư (1991), Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc Bộ giáo dục và đào tạo (từ 1986). Ngay sau Giải thưởng Hồ Chí Minh của nhạc sĩ Huy Du (2000) là Giải thưởng Nhà nước dành cho nhạc sĩ Nguyễn Thị Nhung (2001).

(Còn nữa)

Chia sẻ:
facebook share
instagram share instagram share

Xem nhiều